Phân tích quy định của BLDS 2015 về thực hiện công việc không có ủy quyền

Phân tích quy định của BLDS 2015 về thực hiện công việc không có ủy quyền

Xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ dân sự ngày càng phong phú hơn, đòi hỏi pháp luật phải ghi nhận những quan hệ này nhằm đảm bảo lợi ích của các nhân cũng như trật tự toàn xã hội khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự. Các quan hệ pháp luật dân sự này thuộc nhiều phương diện khác nhau từ vật chất đến tinh thần, xuất hiện do đơn phương một bên chủ thể của quan hệ nhưng cũng có thể đa phương từ nhiều phía chủ thể. Nhiều chế định mới đã được ghi nhận trong Bộ luật dân sự 1995, Bộ luật dân sự 2005 cũng như Bộ luật dân sự 2015 nhằm siết chặt bộ máy pháp luật cũng như bảo vệ quyền lợi của mọi cá nhân dưới danh nghĩa một chủ thể được pháp luật bảo vệ khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Đặc biệt, bên cạnh việc một người khi không tham gia trực tiếp vào một quan hệ hợp đồng có thể ủy quyền cho người thứ ba giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự trên danh nghĩa của mình, có những trường hợp một người thực hiện công việc thay người khác mà không có sự ủy quyền của người kia làm phát sinh vấn đề thực hiện công việc không có ủy quyền. Sau đây, em xin chọn Đề số 12: Phân tích quy định của BLDS 2015 về thực hiện công việc không có ủy quyền. Sưu tầm một vụ việc có tranh chấp về thực hiện công việc không có ủy quyền và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân. để làm rõ hơn về vấn đề thực hiện công việc không có ủy quyền theo quy định của BLDS 2015.

Khái quát chung về thực hiện công việc không có ủy quyền.

Khái niệm về thực hiện công việc không có ủy quyền.

Theo Điều 574 BLDS 2015 quy định về thực hiện công việc không có ủy quyền: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”

Như vậy, công việc không có ủy quyền là công việc của người khác không thuộc nghĩa vụ của người đã thực hiện công việc đó nhưng người này đã tự nguyện thực hiện thay cho người có công việc dù không có sự ủy quyền của họ.

Khi thực hiện công việc của người khác mà không có ủy quyền, địa vị pháp lý của người này tương tự như người được ủy quyền. Tuy nhiên, người thực hiện công việc của người khác tự coi đó là nghĩa vụ của mình, họ thực hiện một cách tự giác như thực hiện công việc cho chính mình. Trong quá trình thực hiện, họ phải tự tổ chức thực hiện công việc, tự chi phí để thực hiện tốt công việc và được yêu cầu bên có công việc phải thanh toán các chi phí hợp lí.

Tóm lại, thực hiện công việc không có ủy quyền gồm những đặc điểm sau đây: 

– Người thực hiện công việc không có nghĩa vụ thực hiện công việc.

– Người thực hiện công việc thực hiện công việc một cách tự nguyện, với thiện chí đối với công việc và người có công việc.

– Việc thực hiện công việc hoàn toàn hướng tới lợi ích của người có công việc.

– Người có công việc không biết hoặc không phản đối đối với việc có người thực hiện công việc của mình.

Khái niệm về nghĩa vụ phát sinh do thực hiện công việc không có ủy quyền.

Trong quan hệ pháp luật dân sự, một chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của chủ thể khác. Nghĩa vụ phát sinh do thực hiện công việc không có ủy quyền là một quan hệ pháp luật dân sự giữa một bên là người đã thực hiện công việc không có ủy quyền với một bên là người phải thực hiện công việc được hình thành khi công việc không có ủy quyền được thực hiện. 

Như vậy, nếu một người thực hiện công việc của người khác với thiện chí thì cần phải thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của họ. Khi đó, người tiến hành công việc phải thực hiện công việc như công việc của chính mình, vì lợi ích của chủ sở hữu hoặc người có công việc. Mặt khác, chủ sở hữu hoặc người có công việc có trách nhiệm bồi hoàn những chi phí mà người tiến hành công việc đó bỏ ra. Ngoài ra, nếu như người tự nguyện thực hiện công việc của người khác đã hoàn thành tốt công việc, đem lại lợi ích cho chủ sở hữu công việc sẽ được hưởng một khoản thù lao thỏa đáng do chủ sở hữu công việc phải trả. 

Điều kiện phát sinh nghĩa vụ do thực hiện công việc không có ủy quyền.

Nghĩa vụ do thực hiện công việc không có ủy quyền chỉ phát sinh khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

– Có người tự nguyện thực hiện công việc của người khác: Một người thực hiện công việc của người khác có thể là nghĩa vụ phát sinh từ thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật buộc họ phải thực hiện. Trong trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền, nghĩa vụ phát sinh nếu công việc được thực hiện không phải nghĩa vụ của người đã thực hiện công việc đó.

– Việc thực hiện công việc là vì lợi ích của người có công việc. Công việc được thực hiện chỉ được coi là vì lợi ích của người khác khi thỏa mãn hai yếu tố sau:

Thứ nhất, người thực hiện công việc không có ủy quyền khi thực hiện công việc của người có công việc phải xuất phát từ lợi ích và hướng tới lợi ích của người có công việc đó.

Thứ hai, kết quả do thực hiện công việc mang lại phải phù hợp với ý định của người có công việc. Việc xác định kết quả của công việc có phù hợp với ý định của người có công việc được thực hiện hay không có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ các bên. Thông thường, khi người có công việc đã biết người khác đang thực hiện công việc cho mình mà không phản đối thì kết quả công việc được thực hiện mang lại luôn luôn được coi là phù hợp với ý định của người có công việc. 

– Công việc đó nếu không được thực hiện sẽ gây ra một thiệt hại cho người có công việc. Dù một người tự nguyện thực công việc cho người khác và đã đem lại cho người đó một lợi ích nhưng nếu công việc đó không được thực hiện cũng không gây thiệt hại cho người có công việc thì việc thực hiện công việc không được coi là căn cứ phát sinh nghĩa vụ này.

– Không có sự phản đối của người có công việc về việc thực hiện công việc đó. Mục đích của việc thực hiện công việc không có ủy quyền là đem lại cho người có công việc một lợi ích là tránh được một thiệt hại sẽ xảy. Nếu người có công việc phản đối việc thực hiện công việc đó thì đồng nghĩa với việc họ chấp nhận thiệt hại. Vì thế, việc phản đối này phải được thể hiện ngay và trong quá trình người khác thực hiện công việc đó. Khi có sự phản đối của người có công việc mà người khác vẫn thực hiện công việc đó thì người có công việc được thực hiện không có nghĩa vụ thanh toán các chi phí mà người thực hiện công việc đã bỏ ra để thực hiện công việc đó.

Phân tích quy định của BLDS 2015 về thực hiện công việc không có ủy quyền
Phân tích quy định của BLDS 2015 về thực hiện công việc không có ủy quyền

Nội dung của nghĩa vụ do thực hiện công việc không có ủy quyền.

Nghĩa vụ của người thực hiện công việc. 

Nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền được quy định chi tiết tại Điều 575 BLDS 2015, theo đó:

– Người thực hiện công việc phải thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân người đó. Nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của người có công việc được thực hiện, pháp luật đòi hỏi người thực hiện công việc không có ủy quyền phải bằng khả năng của mình để thực hiện công việc một cách chu đáo, khi đã thực hiện công việc thì dù công việc có khó khăn đến mấy vẫn phải tìm cách khắc phục trong phạm vi khả năng và điều kiện của mình để hoàn thành tốt công việc đang thực hiện.

– Pháp luật đòi hỏi người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình, nếu như đoán hoặc biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó. 

+ Người thực hiện công việc không có ủy quyền thực hiện công việc như công việc của chính mình. Đây là hành vi tự nguyện thực hiện công việc cho người khác, đồng nghĩa với việc khi người đó đã tự nguyện thực hiện công việc thì người đó đã tự nhận về mình nghĩa vụ đó nên phải chăm lo, tiến hành công việc với tinh thần trách nhiệm như thực hiện công việc cho chính mình với điều kiện là đảm bảo lợi ích tối đa của người có công việc được thực hiện.

+ Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc phù hợp với ý định của người có công việc được thực hiện. Người thực hiện công việc phải tuân thủ theo ý định của người có thẩm quyền đối với công việc nếu không rõ ý định của người có thẩm quyền, cần phải cân nhắc để tính chất công việc và đảm bảo mang lại lợi ích cho người có thẩm quyền với công việc đó. Nếu nhận thấy việc tiếp tục thực hiện công việc là trái với ý định của người có công việc thì phải chấm dứt việc thực hiện công việc. Trên thực tế, mối liên hệ giữa người thực hiện công việc không có ủy quyền với ý định của người có công việc được thực hiện có ba loại:

Một là, người thực hiện công việc không có ủy quyền đã biết hoặc đoán trước được ý định của người có công việc và đã thực hiện công việc theo đúng ý định đó. Lúc này, kết quả của công việc được coi là phù hợp với ý định của người có công việc được thực hiện.

Hai là, người thực hiện công việc không biết hoặc không đoán trước được ý định của người có công việc nhưng đã thực hiện công việc một cách thiện chí và đem lại kết quả nhất định phù hợp với mục đích của người có công việc hoặc đem lại lợi ích cho người có công việc. Khi đó, kết quả công việc của người thực hiện công việc cũng được coi là phù hợp với ý định của người có công việc.

Ba là, kết quả đạt được từ việc thực hiện công việc của người không có ủy quyền không đáp ứng hoặc không có ý nghĩa đối với người có công việc. Khi đó, từ ý nghĩa của kết quả đó đối với người có công việc, việc thực hiện công việc được coi là không phù hợp với ý định của người có công việc.

– Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền, không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó. Tất cả các quy định trên của pháp luật để nhằm đảm bảo cho công việc được thực hiện thật sự mang lại lợi ích cho người có công việc. Ngoài ra, khi người thực hiện công việc không có ủy quyền thực hiện công việc của người có công việc được thực hiện phải thực hiện công việc đến cùng cho đến khi người có công việc hoặc người đại diện, người thừa kế của họ đã tiếp nhận công việc. Người đã thực hiện công việc không được bỏ dở công việc đang thực hiện trừ khi có lí do chính đáng mà không thể tiếp tục thực hiện được công việc thì phải báo cho người có công việc hoặc có thể nhờ người khác đảm nhiệm việc thực hiện công việc.

Nghĩa vụ bồi thường.

Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong quá trình thực hiện công việc. Tuy nhiên họ có thể được giảm mức bồi thường nếu việc gây ra thiệt hại là do lỗi vô ý. Nghĩa vụ bồi thường này được quy định tại Điều 577 BLDS.

Nghĩa vụ của người có công việc được thực hiện. 

Theo Điều 576 BLDS quy định về nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện thì người có công việc được thực hiện có những nghĩa vụ như sau:

– Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc bàn giao. Khi người thực hiện công việc không còn đủ khả năng để thực hiện công việc hoặc dù có khả năng nhưng họ đã thông báo và yêu cầu người có công việc phải tiếp nhận lại công việc thì người này phải nhanh chóng tiếp tục thực hiện công việc. Nếu như người có công việc không tiếp nhận công việc dẫn đến việc công việc không được thực hiện mà gây thiệt hại thì người có công việc phải tự gánh chịu thiệt hại đó. Bởi vì, tại thời điểm người thực hiện công việc thông báo với người có công việc về việc  bản thân không tiếp tục thực hiện công việc nữa, người này hoàn toàn không còn trách nhiệm đối với công việc kể cả khi người có công việc không chịu tiếp nhận công việc. Nên khi đó, nếu như việc không thực hiện công việc dẫn đến gây thiệt hại cho người có công việc thì hoàn toàn do lỗi của người có công việc. Vì vậy, người có công việc khi đó phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại đó.

– Người có công việc được thực hiện phải thanh toán đầy đủ các chi phí thực hiện công việc cho người thực hiện công việc không có ủy quyền. Nếu trong quá trình thực hiện công việc, người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra một khoản chi phí cần thiết thì dù công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của người có công việc được thực hiện thì người đó vẫn phải thanh toán cho người đã thực hiện công việc khoản chi phí mà người này đã bỏ ra. Quy định này được các nhà làm luật đề ra nhằm đảm bảo quyền lợi của người thực hiện công việc không có ủy quyền, không để cho những người này sau khi thực hiện công việc chịu thiệt hại. 

– Người có công việc được thực hiện phải trả thù lao cho người thực hiện công việc không có ủy quyền. Khi người thực hiện công việc đã thực hiện công việc một cách chu đáo, đem lại lợi ích hoặc tránh những thiệt hại nhất định cho người có công việc thì người có công việc phải chi trả khoản thù lao nhất định cho người thực hiện công việc.

Chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền.

Việc chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền được quy định trong các trường hợp sau đây (Điều 578 BLDS):

– Theo yêu cầu của người có công việc được thực hiện. Việc người có công việc được thực hiện không phản đối việc thực hiện công việc đó là điều kiện để được thực hiện công việc không có ủy quyền. Vì vậy, nếu người có công việc yêu cầu thì việc thực hiện công việc không có ủy quyền có thể chấm dứt bất cứ lúc nào.

– Người có công việc thực hiện, người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện tiếp nhận công việc. Trong trường hợp người có công việc được thực hiện, người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc tiếp nhận lại công việc thì việc thực hiện công việc không có ủy quyền chấm dứt. Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải bàn giao công việc mà không có bất kì lí do gì để tiếp tục đảm nhận công việc.

– Người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể thực hiện công việc theo quy định tại Khoản 5 Điều 575 BLDS: Trong trường hợp có lí do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục thực hiện công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận công việc. 

– Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết. Bời vì đây là công việc không có ủy quyền, người thực hiện công việc không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nên người thừa kế của họ không phải gánh vác công việc này.

Phân tích quy định của BLDS 2015 về thực hiện công việc không có ủy quyền
Phân tích quy định của BLDS 2015 về thực hiện công việc không có ủy quyền

Tình huống trong tranh chấp về thực hiện công việc không có ủy quyền.

Tình huống: 

Chị Ân là hàng xóm với chị Hòe. Do mẹ chị Ân ốm nặng, nên cả nhà chị Ân phải lên Yên Bái thăm mẹ. Chị Ân chỉ kịp giao nhà cho chị Hòe trông hộ. Trong thời gian chị Ân đi văng, thấy vườn quả nhà chị Ân đã chín nên chị Hòe đã sang thu hoạch và mang bán giúp. Tuy nhiên, khi chị Ân biết sự việc, chị Ân cho rằng chị Hòe đã bán rẻ số quả của mình. Hai bên phát sinh mâu thuẫn. 

Trả lời:

Mâu thuẫn phát sinh ở đây là từ việc chị Hòe lúc đầu chỉ nhận trông hộ nhà nhưng đã thu hoạch và bán hộ chị Ân số hoa quả đã chín trong vườn. Chị Hòe đã thực hiện công việc không có sự ủy quyền của chị Ân. 

– Nghĩa vụ của chị Hòe khi thực hiện công việc không có ủy quyền:

Việc thu hoạch và bán quả tuy không được chị Ân nhờ nhưng chị Hòe đã tự nguyện làm. Hành động này của chị Hòe dựa trên suy nghĩ rằng, nếu bây giờ chị không thu hoạch hộ chị Ân số quả này, số quả này sẽ bị hỏng, thối, không thể sử dụng hay đem bán được nữa. Lúc đó, chị Ân sẽ bị mất thu nhập từ số quả đó. 

Trong trường hợp này, chị Hòe đã thực hiện công việc giúp chị Ân như công việc của chính mình. Chị Hòe cũng làm đúng như ý định của chị Ân nếu như chị Ân có ở nhà. Như vậy, việc làm của chị Hòe hoàn toàn phù hợp với quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 575 BLDS quy định về nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền đó là, người thực hiện công việc không có uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình; người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó. 

– Nghĩa vụ thanh toán của chị Ân là người có công việc được thực hiện. 

Điều 576 BLDS quy định người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình. 

Trong trường hợp này, dù số tiền chị Hòe bán quả tuy không được nhiều như chị Ân mong muốn nhưng nếu như chị Hòe không thu hoạch và bán giúp chị Ân số quả đó thì số quả đó sẽ bị hư hỏng, không thể bán được nữa. 

=> Như vậy, chị Ân nên nhận số tiền bán quả chị Hòe đưa và cảm ơn chị Hòe vì đã thu hoạch và bán quả giúp cho mình.

Kết bài

Tóm lại, chế định thực hiện công việc không có ủy quyền ban đầu xuất phát từ quan hệ bạn bè, láng giềng – những người thực hiện không đi tìm kiếm lợi ích từ công việc của mình. Chế định này làm phát sinh nghĩa vụ dân sự đối với người tiền hành công việc và người có công việc được thực hiện. 


Tài liệu tham khảo

  1. Bộ luật dân sự 2015.
  2. Giáo trình Luật dân sự 2015
  3. Hướng dẫn môn học Luật dân sự Tập 2.

Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Phân tích quy định của BLDS 2015 về thực hiện công việc không có ủy quyền. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.
Trân trọng./.

phone-call

GỌI HỎI ĐÁP MIỄN PHÍ

Scroll to Top