Hợp đồng gia công theo Bộ luật dân sự Việt Nam

Hợp đồng gia công theo Bộ luật dân sự Việt Nam

BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT

BLDS 

Bộ luật dân sự

HĐGC 

Hợp đồng gia công

Lý do chọn đề tài 

Hoạt động gia công đã xuất hiện từ rất sớm trong xã hội loài người và ngày một phát triển. Nhu cầu về sản phẩm ngày càng đa dạng và phức tạp đã thúc đẩy hoạt động gia công phát triển và cùng theo đó là số lượng các hợp đồng gia công cũng càng ngày càng tăng. Đó cũng là cơ sở hình thành các chế định về hợp đồng gia công để điều chỉnh mối quan hệ về nghĩa vụ, quyền và lợi ích giữa các bên trong hoạt động gia công. Chế định hợp đồng gia công xuất hiện từ rất sớm ở Việt Nam trong Bộ luật dân sự (BLDS) 1995 gồm 12 điều quy định những vấn đề cơ bản về hợp đồng gia công như về khái niệm, đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm chịu rủi ro, đơn phương chấm dứt hợp đồng. Trên cơ sở đó, pháp luật về hoạt động gia công phát triển và dần dần được sửa đổi hoàn thiện qua các năm. Cho đến hiện nay, trong BLDS năm 2015 hiện hành, quy định về hợp đồng gia công đã được bổ sung, hoàn thiện về nhiều mặt trong 12 Điều luật (Điều 542 đến Điều 553). Việc nghiên cứu, đánh giá về những quy định này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện pháp luật dân sự, tạo tiền đề cho những đóng góp để các nhà làm luật điều chỉnh pháp luật sao cho phù hợp với từng giai đoạn, từng hoàn cảnh thực tiễn của đất nước ta.

 Cũng vì lý do đó, tác giả lựa chọn làm tiểu luận đề tài “Hợp đồng gia công theo bộ luật dân sự Việt Nam” làm tiểu luận kết thúc môn. 

Tình hình nghiên cứu 

Theo sự tìm hiểu của tác giả, hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu về hợp đồng gia công dưới góc độ pháp luật, tuy nhiên có thể tìm thấy một số công trình nghiên cứu khác liên quan như: Luận án tiến sĩ “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay”, năm 2016 của tác giả Lê Thị Tuyết Hà tại Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Luận án tập trung nghiên giải quyết nội dung quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại; từ đó đưa ra các giải pháp về pháp luật và thực tiễn.

Chuyên đề tốt nghiệp “Pháp luật về hợp đồng gia công; thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng gia công tại Công ty cổ phần may Hưng Yên”, năm 2012 của tác giả Trần Thị Minh Chúc. Công trình nghiên cứu chủ yếu phân tích, làm sáng tỏ các quy định của Luật thương mại về hợp đồng gia công trên cơ sở áp dụng giải quyết thực tiễn tại Công ty cổ phần may Hưng Yên; từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả ký kết, thực hiện hợp đồng gia công tại Công ty cổ phần may Hưng Yên.

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu liên quan được công bố trên các Tạp chí khoa học khác như: Bài viết “Bình luận về hợp đồng gia công theo Bộ luật dân sự 2015” của tác giả Đào Xuân 

Thủy trên Tạp chí Kinh tế đối ngoại, 2017. Chủ yếu tập trung trình bày những điểm mới về hợp đồng gia công trong BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005, qua đó đề cập một số vấn đề còn tồn tại của quy định về hợp đồng gia công.

Mỗi công trình nghiên cứu là mỗi cách nhìn khác nhau về hợp đồng, đây là những tài liệu quý báu trong việc nghiên cứu đề tài tiểu luận. Tuy nhiên, như đã trình bày, hiện nay có rất ít tác giả nghiên cứu về hợp đồng gia công. Điều này mang đến cho tác giả không ít thuận lợi cũng như khó khăn khi giải quyết đề tài. 

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 

Mục đích nghiên cứu: 

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận thực tiễn về pháp luật dân sự trong hợp đồng gia công và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện nay. 

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để có thể đạt được mục đích đặt ra đề tài giải quyết các vấn đề sau: 

Một là, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật dân sự về hợp đồng gia công;

Hai là, nêu và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật dân sự trong hợp đồng gia công thông qua bản án tranh chấp hợp đồng gia công; 

Ba là, đưa ra những điểm tích cực và hạn chế tồn đọng, từ đó kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật dân sự về hợp đồng gia công. 

Phương pháp nghiên cứu 

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, bài tiểu luận đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau: 

Các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp chứng minh, phương pháp diễn giải, quy nạp để nghiên cứu. Các phương pháp này được sử dụng đan xen lẫn nhau để có thể xem xét một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính. 

Kết cấu đề tài 

Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của tiểu luận được chia thành hai chương như sau: 

Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng gia công theo pháp luật dân sự Việt Nam; 

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật dân sự về hợp đồng gia công và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Nội dung bài viết

Lý luận chung về hợp đồng gia công theo bộ luật dân sự việt nam 

Khái quát chung về hợp đồng gia công 

Khái niệm “Hợp đồng gia công” 

Tại Điều 542 BLDS 2015 có quy định: “Hợp đồng gia công là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công.”. Ngoài ra, khái niệm “gia công” trong quan hệ dân sự có thể được hiểu thông qua khái niệm gia công trong hoạt động thương mại khi xác định các yếu tố đặc trưng và bản chất của hoạt động này. Cụ Thể, theo Điều 128 Luật Thương mại năm 1997, gia công là hành vi thương mại, theo đó bên nhận gia công thực hiện việc gia công hàng hoá theo yêu cầu, bằng nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để hưởng tiền gia công; bên đặt gia công nhận hàng hóa đã gia công để kinh doanh thương mại và phải trả tiền gia công cho bên nhận gia công. Đến Luật Thương mại năm 2005, khái niệm này được đưa ra ngắn gọn hơn: “Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao gọi là phí gia công”1. 

Như vậy, trong quá trình thực hiện hợp đồng gia công, bên nhận gia công cũng tạo ra sản phẩm, cũng thực hiện công việc theo yêu cầu của bên đặt gia công và vì thế mang những đặc điểm của cả hợp đồng mua bán và hợp đồng dịch vụ nên còn gây ra nhầm lẫn về bản chất của hợp đồng này với các loại hợp đồng khác. Việc phân tích đặc điểm của hợp đồng gia công dưới đây sẽ làm rõ bản chất của loại hợp đồng này. 

Đặc trưng cơ bản của hợp đồng gia công 

Đầu tiên, hợp đồng gia công có bản chất chính là sự giao thoa giữa hai loại hợp đồng khác, đó là loại hợp đồng mua bán hàng hóa và loại hợp đồng cung ứng dịch vụ. 

Thứ hai, hợp đồng gia công chính là hợp đồng song vụ, vì vậy nó sẽ mang tính đền bù ngang giá của hợp đồng song vụ.

Thứ ba, đối tượng của hợp đồng gia công nhất định là vật được xác định theo yêu cầu và thỏa thuận giữa bên đặt gia công và nhận gia công. 

Thứ tư, mục đích của hợp đồng gia công là khoản tiền công được thụ hưởng và vật gia công khi được hoàn thiện. 

Vai trò của hợp đồng gia công 

1 Điều 180 Luật thương mại 2005

Như các loại hợp động phát lý khác hợp đồng gia công có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con người nói chung và trong lĩnh vực thương mại dân sự nói riêng, loại hợp đồng này tác động sâu rộng đến nhiều đối tượng. Hợp đồng gia công chính là cơ sở pháp lý để giải quyết khi phát sinh tranh chấp giữa giao dịch của hai bên trong hợp đồng. Bên cạnh đó, hợp đồng gia công còn có ý nghĩa trong việc xây dựng uy tín, và tạo niềm tin, từ đó giúp các chủ thể tự tin hơn khi thực hiện giao kết hợp đồng. Hợp đồng gia công còn là công cụ giúp cho các thương nhân dễ dàng thâm nhập vào thị trường nước ngoài, từ đó đem lại nguồn lợi kinh tế lớn và phát triển kinh tế nước nhà. 

Hợp đồng gia công theo Bộ luật dân sự Việt Nam
Hợp đồng gia công theo Bộ luật dân sự Việt Nam

Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về hợp đồng gia công 

Hình thức của hợp đồng gia công 

Cũng như các loại hợp đồng phổ biến khác, hợp đồng gia công có thể được thể hiện và kí kết thông qua các hình thức: văn bản, lời nói, hành vi hoặc các hình thức pháp lý khác tương đương được quy định tại Điều 119 BLDS 2015:

“1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.” 

Đặc điểm của hợp đồng gia công 

Hợp đồng gia công mang những đặc điểm như sau: 

Tính chất 

Thứ nhất, hợp đồng gia công là hợp đồng song vụ. Cả bên đặt gia công và bên nhận gia công đều có những quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, trong đó quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. 

Thứ hai, hợp đồng gia công là hợp đồng có đền bù. Bên đặt gia công có nghĩa vụ thanh toán tiền công cho bên nhận gia công theo thỏa thuận. Việc không có thỏa thuận không được hiểu là không có đền bù. 

Bản chất 

Bản chất hợp đồng gia công là chính là hợp đồng ưng thuận: Hợp đồng gia công có hiệu lực ngay từ thời điểm các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản của hợp đồng. Hợp đồng này không bao giờ có thể được thực hiện và chấm dứt ngay tại thời điểm giao kết, mà luôn đòi hỏi một khoảng thời gian đủ để bên nhận gia công có thể thực hiện được việc gia công của mình. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn thì thời hạn được tính là khoảng thời gian hợp lý để thực hiện công việc. HĐGC còn có đặc điểm của hợp đồng mua bán tài sản, nếu nguyên vật liệu của bên gia công thì bên đặt gia công phải trả tiền mua vật liệu và tiền gia công hàng hóa từ số lượng, chất lượng của nguyên vật liệu được tạo ra thành phẩm là kết quả của hành vi gia công 

Thứ hai, hợp đồng gia công có kết quả được vật thể hóa: Vật đó là vật được xác định trước theo mẫu, theo 1 tiêu chuẩn do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định trước. Vật mẫu hay tiêu chuẩn của vật gia công chỉ được hiện thực hóa (vật chất hóa hay trở thành hàng hóa) sau khi bên nhận gia công đã hoàn thành công việc gia công. Đây chính là điểm đặc trưng riêng biệt của hợp đồng gia công. 

Đối tượng của hợp đồng gia công 

Đối tượng của hợp đồng gia công là vật được xác định trước theo mẫu, theo tiêu chuẩn mà các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Tùy theo sự thỏa thuận của các bên trong từng hợp đồng cụ thể mà đối tượng của hợp đồng sẽ là một sản phẩm theo tiêu chuẩn có tính chất chung hoặc một sản phẩm theo mẫu đã làm ra. 

Vật trong hợp đồng gia công 

Vật trong hợp đồng gia công là một loại sản phẩm, hàng hóa do bên thuê gia công đặt theo hợp đồng. Mẫu của vật này có thể do bên thuê gia công chỉ định hoặc do bên gia công đưa ra và bên thuê gia công chấp nhận. Mẫu mà các bên sử dụng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội

Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng gia công

Quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công 

Quyền của bên đặt gia công 

Theo Điều 545 BLDS 2015 thì bên đặt gia công có những quyền như sau:

Thứ nhất, yêu cầu bên nhận gia công thực hiện đúng hợp đồng. Trường hợp bên nhận gia công vi phạm nghĩa vụ mà gây thiệt hại, bên đặt gia công có quyền hủy hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng 

Thứ hai, nhận sản phẩm gia công theo đúng số lượng, chất lượng, phương thức, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận. Yêu cầu bên nhận gia công giao vật đúng thời hạn, đúng chất lượng, số lượng… 

Thứ ba, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên nhận gia công vi phạm nghiêm trọng hợp đồng. 

Thứ tư, trường hợp sản phẩm không bảo đảm chất lượng mà bên đặt gia công đồng ý nhận sản phẩm và yêu cầu sửa chữa nhưng bên nhận gia công không thể sửa chữa được trong thời hạn thỏa thuận thì bên đặt gia công có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Và cuối cùng là, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện hợp đồng để đảm bảo chất lượng hàng hóa gia công 

Nghĩa vụ của bên đặt gia công 

Theo Điều 544 BLDS 2015 bên đặt gia công có nghĩa vụ: 

Thứ nhất, bên đặt gia công có nghĩa vụ cung cấp nguyên vật liệu theo đúng số lượng, chất lượng, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận cho bên nhận gia công; cung cấp giấy tờ cần thiết liên quan đến việc gia công. Chất lượng của nguyên vật liệu phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Nếu bên đặt gia công cung cấp nguyên vật liệu chất lượng không đúng như thỏa thuận làm ảnh hưởng đến chất lượng của hàng hóa thì bên nhận gia công không chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại phải bồi thường. Việc cung cấp nguyên vật liệu có thể được thực hiện 1 hoặc nhiều lần nhưng phải đúng thời gian quy định 

Thứ hai, bên đặt gia công chỉ dẫn cho bên nhận gia công thực hiện hợp đồng. 

Thứ ba, bên đặt gia công trả tiền công tại thời điểm nhận sản phẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp không có thỏa thuận về mức tiền công thì áp dụng mức tiền công trung bình đối với việc tạo ra sản phẩm cùng loại tại địa điểm gia công và vào thời điểm trả tiền. 

Thứ tư, nhận sản phẩm theo đúng thời hạn và tại địa điểm đã thỏa thuận. Trường hợp bên đặt gia công chậm nhận sản phẩm thì bên nhận gia công có thể gửi sản phẩm đó tại nơi nhận gửi giữ và phải báo ngay cho bên đặt gia công. Nghĩa vụ giao sản phẩm hoàn thành khi đáp ứng được các điều kiện đã thỏa thuận và bên đặt gia công đã được thông báo. Bên đặt gia công phải chịu mọi chi phí phát sinh từ việc gửi giữ. Khi bên đặt gia công chậm nhận sản phẩm thì phải chịu rủi ro trong thời gian chậm nhận, kể cả trong trường hợp sản phẩm được tạo ra từ nguyên vật liệu của bên nhận gia công, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 

Quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công 

Cũng như quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công thì quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công là điều khoản không thể thiếu trong hợp đồng gia công 

Quyền của bên nhận gia công 

Căn cứ Điều 547 BLDS 2015 thì quyền của bên nhận gia công: 

Thứ nhất, yêu cầu bên đặt gia công giao nguyên vật liệu đúng chất lượng, số lượng, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận. Nếu hợp đồng gia công có thỏa thuận về thời hạn bảo hành sản phẩm, trong thời hạn bảo hành, bên nhận gia công có nghĩa vụ sửa chữa, thay thế sản phẩm do mình gia công. Trong khi thực hiện hợp đồng mà phát hiện được chất lượng nguyên vật liệu không đảm bảo có thể gây thiệt hại cho các bên, bên nhận gia công phải thông báo cho bên đặt gia công biết để thay thế nguyên liệu hoặc có quyền hủy hợp đồng nếu bên đặt gia công không thực hiện yêu cầu thay thế nguyên liệu. 

Thứ hai, từ chối sự chỉ dẫn không hợp lý của bên đặt gia công trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu thấy chỉ dẫn đó có thể làm giảm chất lượng sản phẩm, nhưng phải báo ngay cho bên đặt gia công. 

Thứ ba, yêu cầu bên đặt gia công trả đủ tiền công theo đúng thời hạn và phương thức đã thỏa thuận. 

Nghĩa vụ của bên nhận gia công 

Bên nhận gia công có nghĩa vụ theo quy định của điều 546 BLDS 2015 

Thứ nhất, bảo quản nguyên vật liệu do bên đặt gia công cung cấp. Nếu làm hư hỏng, mất mát thì phải bồi thường. 

Thứ hai, báo cho bên đặt gia công biết để đổi nguyên vật liệu khác, nếu nguyên vật liệu không bảo đảm chất lượng; từ chối thực hiện gia công, nếu biết hoặc phải biết việc sử dụng nguyên vật liệu có thể tạo ra sản phẩm nguy hại cho xã hội. 

Thứ ba, giao sản phẩm cho bên đặt gia công đúng số lượng, chất lượng, phương thức, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận. 

Thứ tư, giữ bí mật thông tin về quy trình gia công và sản phẩm tạo ra. 

Thứ năm, chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, trừ trường hợp sản phẩm không bảo đảm chất lượng do nguyên vật liệu mà bên đặt gia công cung cấp hoặc do sự chỉ dẫn không hợp lý của bên đặt gia công. 

Thứ sáu, hoàn trả nguyên vật liệu còn lại cho bên đặt gia công sau khi hoàn thành hợp đồng. Thứ bảy, giao sản phẩm theo đúng thời hạn và tại địa điểm đã thỏa thuận. 

Thứ tám, chịu thiệt hại về công sức của mình đã bỏ ra thực hiện hợp đồng nếu không may xảy ra rủi ro trong khi thực hiện hợp đồng mà sản phẩm bị hư hỏng. Nếu bên nhận gia công tự mình phải mua nguyên vật liệu thì phải chịu thiệt hại về nguyên vật liệu bị hư hỏng. 

Trách nhiệm chịu rủi ro trong hợp đồng

Theo Điều 548 BLDS 2015 nếu trong trường hợp hai bên không có thỏa thuận, cho đến khi giao sản phẩm cho bên đặt gia công, bên nào là chủ sở hữu của nguyên vật liệu thì phải chịu rủi ro đối với nguyên vật liệu hoặc sản phẩm được tạo ra từ nguyên vật liệu đó.Khi bên đặt gia công chậm nhận sản phẩm thì phải chịu rủi ro trong thời gian chậm nhận, kể cả trong trường hợp sản phẩm được tạo ra từ nguyên vật liệu của bên nhận gia công; trừ khi hai bên có thỏa thuận khác. Khi bên nhận gia công chậm giao sản phẩm mà có rủi ro đối với sản phẩm gia công, thì phải bồi thường thiệt hại xảy ra cho bên đặt gia công. 

Đơn phương chấm dứt hợp đồng gia công 

Về điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng gia công được quy định tại khoản 1 Điều 551 BLDS năm 2015 quy định: “mỗi bên đều có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công, nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, nhưng phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý”. Như vậy, quy định trên dường như tạo điều kiện “dễ dàng” cho một bên có thể đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Việc “tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình” là hết sức mơ hồ và không rõ ràng. “Lợi ích” được nhắc đến ở đây là lợi ích gì, lợi ích vật chất hay tinh thần, lợi ích kinh tế hay lợi ích khác.

Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật dân sự về hợp đồng gia công

Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hợp động gia công thông qua vụ án số 30/2018/TLST-DS tại Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh 2.1.1. Tóm tắt vụ án

Trong ngày 03 tháng 7 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2018/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng gia công. Nội dung vụ án như sau: 

Ngày 07/10/2017 ông T bà G có giao cho bà Nguyễn Thị P 271 áo dân phòng để may gia công, tiền công 18.000 đồng/áo, theo thỏa thuận thời hạn thực hiện trong vòng 10 ngày, nếu trễ hạn bà P phải chịu phạt một số tiền bằng với toàn bộ giá trị lô hàng hóa thành phẩm tính theo giá thị trường. Đến ngày 24/10/2017 (17 ngày) bà P mới giao hàng nhưng toàn bộ hàng hóa đều may sai và không sử dụng được. Ngày 27/10/2017 bà P mang hàng về sửa nhưng thực tế không sửa mà 3 ngày sau thì mang trả lại. Để có hàng bán ra thị trường, ông bà T và G phải thuê người khác tháo áo ra sửa lại hết 16.900.000 đ, đồng thời bỏ hoàn toàn 40 cái áo, mỗi cái giá 200.000 đ; tổng cộng thiệt hại ông bà phải khắc phục là 16.900.000 đ + 8.000.000 đ = 24.900.000 đ. Do đó ông T bà G yêu cầu bà P phải bồi thường tổng cộng 24.900.000 đ. Như vậy, có thể nhận thấy rằng: nội dung tranh chấp trong trường hợp trên giữa ông T và G (nguyên đơn) và bà T (bị đơn) về tranh chấp hợp đồng gia công. 

Quan điểm của các bên 

Phía nguyên đơn 

Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của nguyên đơn rút phần yêu cầu bồi thường 8.000.000 đ đối với 40 cái áo bị hủy, chỉ yêu cầu tổng cộng 16.900.000 đ.

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn cho rằng lỗi hoàn toàn thuộc về bị đơn vì đã không hoàn thành công việc được giao. Khi bị đơn nhận lại hàng để khắc phục cũng không thực hiện dẫn đến việc nguyên đơn phải thuê người khác sửa chữa. 

Phía bị đơn 

Bà P xác nhận có nhận 271 áo do vợ chồng bà G giao để may gia công nhưng do phía bà G không giao chỉ để may nên bà dùng loại chỉ khác thay thế dẫn đến áo bị khác màu so với yêu cầu. Bà P thừa nhận có sai sót và đã nhận lại hàng để khắc phục tuy nhiên vì hoàn cảnh gia đình bà chưa thực hiện xong thì bà G lấy hàng về tự khắc phục. Bà không đồng ý yêu cầu bồi thường của nguyên đơn mà đề nghị được tự nhận lại 271 áo để khắc phục. Về số tiền công bà đã thực hiện đối với 271 áo bà đề nghị không lấy và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bên cạnh đó bị đơn cho rằng bị đơn có thiện chí khắc phục nên nhận hàng lại để sửa nhưng do hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, nguyên đơn không tạo điều kiện về mặt thời gian để thực hiện. 

Phía Viện Kiểm sát 

Phía Viện Kiểm sát nhận thấy giữa hai bên có xác lập hợp đồng gia công vào ngày 07/10/2017.

Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của nguyên đơn thừa nhận không cung cấp nguyên vật liệu (chỉ may) cho bên bị đơn, nguyên đơn cũng không chứng minh được có chỉ dẫn cho bị đơn trong quá trình thực hiện công việc; phía bị đơn cũng có lỗi khi nhận hàng hóa mà không đề nghị cung cấp nguyên vật liệu, tự ý thay thế nguyên vật liệu khác, do đó cả hai bên đều có lỗi ngang nhau. 

Phía Viện Kiểm sát đề nghị xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ đối với yêu cầu bồi thường số tiền 8.000.000 đ do nguyên đơn rút yêu cầu. 

Nhận định của Tòa án 

Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngày 28/12/2017 nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại do may gia công không đạt yêu cầu, do đó đây là tranh chấp về hợp đồng gia công; bị đơn đang cư trú tại huyện Nhà Bè Tp. Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè TP. Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. 

Về các yêu cầu của đương sự: Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp, cùng với lời khai của các đương sự có cơ sở xác định, ngày 07/10/2017 ông T bà G có giao cho bà P 271 áo để may gia công, tiền công 18.000 đồng/áo, thực hiện trong thời hạn 10 ngày. Bị đơn xác nhận phía nguyên đơn có giao 01 áo mẫu kèm theo. 

Về chất lượng hàng hóa gia công, bị đơn thừa nhận có sai sót và nhận lại hàng để khắc phục nhưng không đảm bảo về mặt thời gian, dẫn đến việc nguyên đơn phải thuê người khác sửa chữa với số tiền 16.900.000 đ nên thiệt hại xảy ra là có thật. 

Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của nguyên đơn thừa nhận khi giao hàng không giao nguyên vật liệu kèm theo, đồng thời nguyên đơn cũng không chứng minh được đã thực hiện việc chỉ dẫn cho phía bị đơn thực hiện hợp đồng như thế nào là vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1,2 Điều 544 BLDS 2015. Đối với phía bị đơn sau khi nhận hàng đã không phản hồi gì về vấn đề chỉ may lại tự ý mua chỉ khác dẫn đến kết quả không đạt yêu cầu nên vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2,3 Điều 546 BLDS 2015. Như vậy trong trường hợp này nguyên đơn và bị đơn có lỗi ngang nhau nên có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với tiền công bị đơn đã thực hiện trên 271 áo mà nguyên đơn chưa trả, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị đơn xác định không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. Nếu sau này bị đơn có yêu cầu sẽ được xem xét trong vụ kiện khác.

Hợp đồng gia công theo Bộ luật dân sự Việt Nam
Hợp đồng gia công theo Bộ luật dân sự Việt Nam

Tòa án tuyên xử 

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho ông Đặng Văn Tuấn, bà Lê Thị Hồng G số tiền 8.450.000 đ (tám triệu, bốn trăm năm chục ngàn đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. 

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tuấn, bà G về việc yêu cầu bà P bồi thường thiệt hại số tiền 8.000.000 đ (tám triệu đồng). 

Bình luận bản án

Như vậy, qua vụ án xét xử hợp đồng gia công nêu ra ở trên, chúng ta có thể thấy về cơ bản các tranh chấp trong hợp đồng đã được giải quyết. Bà Nguyễn Thị P phải chịu trách nhiệm bồi thường về vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng giao kết với bên thuê gia công theo Điều 548 BLDS 2015. Bên nguyên đơn thừa nhận không cung cấp nguyên vật liệu (chỉ may) cho bên bị đơn, nguyên đơn cũng không chứng minh được có chỉ dẫn cho bị đơn trong quá trình thực hiện công việc; phía bị đơn cũng có lỗi khi nhận hàng hóa mà không đề nghị cung cấp nguyên vật liệu, tự ý thay thế nguyên vật liệu khác, do đó cả hai bên đều có lỗi ngang nhau. Trong trường hợp này hai bên chủ thể đều có lỗi ngang nhau và được giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, quy định pháp luật dân sự. 

Những ưu điểm trong pháp luật dân sự về hợp đồng gia công hiện nay

Một số điểm mới về hợp đồng gia công trong bộ luật dân sự 2015 

Những quy định về hợp đồng gia công trong trong BLDS năm 2015 cơ bản thể hiện sự kế thừa tốt các quy định trước đây, bổ sung thêm các quyền cũng như nghĩa vụ cho các bên chủ thể, nội dung điều khoản khá chặt chẽ, một số điểm mới thay đổi tích cực đó là:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 544 BLDS năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên đặt gia công, bên đặt gia công có nghĩa vụ “cung cấp nguyên vật liệu theo đúng số lượng, chất lượng, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận cho bên nhận gia công; cung cấp giấy tờ cần thiết liên quan đến việc gia công”. Như vậy, BLDS năm 2015 đã dùng cụm từ “đã thỏa thuận” làm cho việc diễn đạt đơn giản hơn so với luật cũ 2005, nhưng đồng thời cũng thay đổi nghĩa vụ của bên đặt gia công trong những trường hợp nhất định. Theo đó, trong BLDS năm 2015, nghĩa vụ cung cấp nguyên vật liệu là đương nhiên và bắt buộc. Sự “thỏa thuận” ở đây là thỏa thuận cụ thể về số lượng, chất lượng, thời hạn và địa điểm cung cấp nguyên vật liệu. Như vậy, cách quy định trong BLDS năm 2015 đã loại trừ trường hợp toàn bộ nguyên vật liệu được cung cấp từ bên nhận gia công và bên đặt gia công ít nhiều cũng phải cung cấp một phần nguyên vật liệu. Khi đó, quy định này sẽ vẫn thể hiện được tự tưởng lập pháp theo hướng tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên đồng thời phù hợp hơn với bản chất của hợp đồng gia công và thực tiễn hoạt động gia công hiện nay. 

Thứ hai, khoản 2 Điều 546 BLDS năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên nhận gia công “biết hoặc phải biết”. Việc quy định này xác định nghĩa vụ của bên nhận giao công là phải “báo cho bên đặt gia công biết để đổi nguyên vật liệu khác, nếu nguyên vật liệu không bảo đảm chất lượng; từ chối thực hiện gia công, nếu biết hoặc phải biết việc sử dụng nguyên vật liệu có thể tạo ra sản phẩm nguy hại cho xã hội”. Vì thế, bên nhận gia công sẽ không phải chịu trách nhiệm trong trường hợp không biết hoặc không thể biết việc sử dụng nguyên vật liệu có thể tạo ra sản phẩm gây nguy hại cho xã hội. Điều này là hoàn toàn hợp lý xuất phát từ bản chất của hợp đồng gia công là thực hiện việc gia công theo chỉ dẫn của bên đặt gia công và trong nhiều trường hợp, không thể biết được việc gia công này tạo ra sản phẩm nhằm mục đích gì, có gây nguy hại cho xã hội hay không. Bên nhận gia công sẽ không thể chối bỏ trách nhiệm đối với sản phẩm khi không thông báo nguyên vật liệu không đảm bảo với lý do “tôi không biết hoặc không thể biết nguyên vật liệu không bảo đảm chất lượng”. 

Thứ ba, quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công. Về nội dung, quy định này không có thay đổi mà được kết cấu lại so với quy định của BLDS năm 2005. Cụ thể, khoản 1 và khoản 2 điều 551 BLDS năm 2015 được tách ra từ khoản 1 điều 556 BLDS năm 2005 để làm rõ điều kiện đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công và hậu quả pháp lý đối với bên đơn phương chấm dứt hợp đồng gia công.

Về Điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng gia công,theo khoản 1 điều 551 Bộ Luật Dân sự năm 2015: “mỗi bên đều có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công, nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, nhưng phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý”. Như vậy, quy định trên dường như tạo điều kiện “dễ dàng” cho một bên có thể đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Việc “tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình” là hết sức mơ hồ và không rõ ràng. “Lợi ích” được nhắc đến ở đây là lợi ích gì, lợi ích vật chất hay tinh thần, lợi ích kinh tế hay lợi ích khác? 

Nếu đối chiếu quy định này với quy định tại Điều 428 về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong BLDS năm 2015 sẽ thấy điều kiện đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công “đơn giản” hơn nhiều. Cụ Thể, Điều 428 BLDS năm 2015 quy định điều kiện đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Khi đó, với hợp đồng thông thường, một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Trong đó, vi phạm nghiêm trọng được hiểu là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng2. Đối với hợp đồng gia công, một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu thấy hợp đồng đó không mang lại lợi ích cho mình. Việc quy định như vậy là quá dễ dàng cho việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công từ một bên và không thống nhất với quy định chung về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công theo Điều 428 BLDS năm 2015 cũng như với quy định tại khoản 2 Điều 545 về quyền của bên đặt gia công. Tóm lại, quy định về điều kiện đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công theo khoản 1 Điều 551 là chưa hợp lý, điều kiện này nên là những điều kiện đặc thù riêng có đối với hợp đồng gia công – một loại hợp đồng cụ thể. Ví dụ, quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công khi một bên chậm giao nguyên vật liệu hay chậm giao sản phẩm. 

Về hậu quả pháp lý đối với bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công, khoản 2 Điều 551 BLDS năm 2015 quy định: “bên đặt gia công đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phải trả tiền công tương ứng với công việc đã làm, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Bên nhận gia công đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì không được trả tiền cộng, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Hậu quả pháp lý này chỉ phù hợp khi bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là bên có lỗi hoặc tự ý chấm dứt hợp đồng, chứ chưa phù hợp với trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng vì nguyên nhân từ bên kia. Ví dụ, bên nhận gia công đã rất nhiều lần không thực hiện theo đúng chỉ dẫn của bên đặt gia công nên khi bên đặt gia công tuyên bố đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì họ có phải trả tiền công tương ứng với công việc đã làm không? Hơn nữa, khoản 3 điều 551 cũng quy định “bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải 4 Khoản 2 điều 423 BLDS năm 2015 bồi thường”. Quy định này chưa đề cập đến bên vi phạm hay lỗi từ phía nào đã xác định trách nhiệm bồi thường. Quy định này chỉ phù hợp khi bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là chấm dứt trái pháp luật. 

Tóm lại, chế định về hợp đồng gia công trong BLDS năm 2015 đã có một số điểm mới, nhưng về cơ bản vẫn là sự kế thừa của BLDS năm 2005. Những quy định này đã đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh từ hoạt động gia công trong đời sống nhưng cũng còn tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Vì vậy, tiểu luận này bên cạnh việc làm rõ những vấn đề cơ bản về hợp đồng gia công, đã liệt kê, phân tích những điểm mới về chế định hợp đồng gia công trong BLDS năm 2015, đồng thời chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại để tiếp tục được khắc phục và áp dụng phù hợp trong thực tiễn. 

Ưu điểm trong thực tiễn khi thực hiện pháp luật dân sự về hợp đồng gia công 

2 Khoản 2 Điều 423 BLDS năm 2015

Một là, qua quá trình tìm hiểu tác giả nhận thấy hầu như các bên tuân thủ chặt chẽ quy định về hình thức và nội dung của hợp đồng gia công trong quá trình giao kết. Về hình thức, hầu hết các hợp đồng gia công đều được lập thành văn bản, được ký bởi người đại diện có thẩm quyền, điều này tránh được rủi ro về hợp đầu hơn các hình thức kí kết khác. Về nội dung, tùy thuộc vào hàng hóa yêu cầu gia công mà mỗi điều khoản trong hợp đồng có thể khác nhau, nhưng đều thể hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ mà các bên cam kết.

Hai là, tranh chấp phát sinh trong hợp động gia công mang tính không quá gay gắt, các bên ý thức được quyền tự do định đoạt, thỏa thuận trên cơ sở thiện chí nên vẫn đạt được kết quả cao mặc dù Tòa án đã thụ lý vụ án. Cụ thể, khi tìm hiểu về đề tài, tác giả nhận thấy trên cả nước vào năm 2016 đến 2018, trong số 19 vụ án mà Tòa đã thụ lý, có đến 6 vụ được đình giải quyết. Nguyên nhân đều do các bên tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ tranh chấp nên nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện; bị đơn cũng không có yêu cầu phản tố.

Ba là, công tác hòa giải tại Tòa án được tuân thủ một cách nghiêm túc và nhanh chóng, đúng quy định pháp luật. 

Những vướng mắc trong pháp luật dân sự về hợp đồng gia công hiện nay

Những hạn chế trong quy định tại bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng gia công.

Dù so với BLDS 2005 thì BLDS 2015 đã có những thay đổi và quy định mới phù hợp với hiện nay, tuy nhiên BLDS 2015 vẫn có những quy định còn hạn chế, vướng mắc, gây khó khăn cho việc thực hiện hợp đồng gia công. 

Thứ nhất, khoản 1 Điều 551 BLDS năm 2015 quy định về điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng gia công : “mỗi bên đều có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công, nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, nhưng phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý”. Như vậy, quy định trên dường như tạo điều kiện “dễ dàng” cho một bên có thể đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Việc “tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình” là hết sức mơ hồ và không rõ ràng. “Lợi ích” được nhắc đến ở đây là lợi ích gì, lợi ích vật chất hay tinh thần, lợi ích kinh tế hay lợi ích khác? Việc quy định như vậy là quá dễ dàng cho việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công từ một bên và không thống nhất với quy định chung về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công theo Điều 428 BLDS năm 2015 cũng như với quy định tại khoản 2 Điều 545 về quyền của bên đặt gia công. Tóm lại, quy định về điều kiện đơn phương chấm dứt thực hiện hợp như vậy là chưa hợp lý, điều kiện này nên là những điều kiện đặc thù riêng có đối với hợp đồng gia công – một loại hợp đồng cụ thể. 

Thứ hai, khoản 2 Điều 551 BLDS năm 2015 quy định về hậu quả pháp lý đối với bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công: “bên đặt gia công đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phải trả tiền công tương ứng với công việc đã làm, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Bên nhận gia công đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì không được trả tiền công, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Hậu quả pháp lý này chỉ phù hợp khi bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là bên có lỗi hoặc tự ý chấm dứt hợp đồng, chứ chưa phù hợp với trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng vì nguyên nhân từ bên kia. 

Thứ ba, một điểm gây mơ hồ nữa trong khoản 3 Điều 551 quy định: “bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường”. Vậy bên kia là bên đặt hay bên nhận gia công? Rõ ràng, trong điều luật chưa đề cập đến bên vi phạm hay lỗi từ phía nào đã xác định trách nhiệm bồi thường, ít nhiều gây hạn chế trong thực tiễn giải quyết khi có tranh chấp về hợp đồng gia công xảy ra. Quy định chung chung về chủ thể chỉ nên khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. 

Những bất cập trong thực tiễn thực hiện pháp luật hợp đồng gia công

Bên cạnh những ưu điểm, thành công đã đạt được thì trong quá trình thực hiện pháp luật hợp đồng gia công thời gian qua vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập sau:

Một là, đa phần những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng gia công do một bên không tuân thủ đúng nghĩa vụ hợp đồng, vi phạm những cam kết đã thỏa thuận. Điều này chứng tỏ ý thức về nghĩa vụ hợp đồng giữa các bên chưa cao. 

Hai là, thực tiễn hòa giải trước khi đưa vụ án ra xét xử tại Tòa án hiệu quả chưa cao. Như số liệu đã thống kê, trong 19 vụ tranh chấp hợp đồng gia công thương mại mà Tòa đã thụ lý trong năm 2016 đến năm 2018 chỉ có một vụ hòa giải thành, chiếm 5%. Đây là một tỷ lệ rất thấp, chưa đáp ứng được kỳ vọng trong bối cảnh cải cách tư pháp khi mà ngành Tòa án không ngừng được đầu tư cả về chất và lượng. 

Ba là, chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng gia công bằng Tòa án chưa đạt hiệu quả như mong muốn, trong số 12 vụ án đưa ra xét xử (7 vụ đình chỉ giải quyết) thì có đến 5 vụ là xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm các bản án sơ thẩm. 

Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật dân sự về hợp đồng gia công

Dựa trên thực tiễn và những bất cập vướng mắc trong các quy định và thực hiện pháp luật dân sự về hợp đồng giá công, tác giả có một số ý kiến nhằm hoàn thiện nó như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật hợp đồng gia công tại BLDS 2015

Hoàn thiện quy định tại khoản 1 Điều 551 BLDS năm 2015 quy định về điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng gia công. Cần có sự quy định rõ hơn trong cụm từ “lợi ích” mà luật quy định.

Hoàn thiện quy định tại khoản 2 Điều 551 BLDS năm 2015 quy định về hậu quả pháp lý đối với bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công. Cần bổ sung các quy định trong trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng vì nguyên nhân từ bên kia 

Tại khoản 3 Điều 551 BLDS 2015 cần có quy định rõ bên đặt hay bên nhận gia công phải bồi thường 

Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể giao kết hợp đồng. 

Thứ ba , tích cực hỗ trợ tư vấn pháp luật cho các thương nhân trong nước khi giao hết hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài, vì đây là giao dịch dễ xảy ra rủi ro nhất. 

Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp có trách nhiệm, giàu kiến thức, kỹ năng, trong sạch hướng đến nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng gia công. 

Thứ năm, bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục phổ biến pháp luật, xét xử giải quyết tranh chấp.


Kết luận 

Qua nghiên cứu về các chế định về hợp đồng gia công trong bộ luật dân sự năm 2015, ta thấy pháp luật quy định ngày càng hoàn thiện từ sự kế thừa từ bộ luật dân sự năm 2005. Nhiều điểm mới, quy định mới mà các nhà làm luật đưa vào góp phần bảo đảm nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của hợp đồng gia công hơn. Những quy định này cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh từ hoạt động gia công trong đời sống nhưng cũng còn tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết, nhất là trong tình hình biến đổi xã hội phức tạp hiện nay.

Phân tích, đánh giá, nhìn nhận về những vấn đề ấy một cách khách quan là cơ sở để ta đưa ra những ý kiến, đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về hợp đồng gia công, cũng là nền tảng cho sự phát triển loại hình hợp đồng này ngày càng đổi mới, đảm bảo về cơ sở pháp lý cũng như trong thực tiễn giao dịch. 

Tác giả hi vọng bài tiểu luận có thể góp phần công sức vào quá trình hoàn thiện những quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng gia công, cũng như tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế và kiến thức của bản thân cũng có nhiều cái nhìn chủ quan, chắc chắn bài tiểu luận không tránh khỏi những sai sót, kính mong quý thầy, cô góp ý để tác giả hoàn thiện bản thân mình hơn.


Danh mục tài liệu tham khảo

  1. Danh mục văn bản pháp luật 
  2. Bộ luật dân sự năm 1995. 
  3. Bộ luật dân sự năm 2005. 
  4. Bộ luật dân sự năm 2015. 
  5. Tài liệu tham khảo khác 
  6. Đỗ Văn Đại, 2016, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, TP. HCM. 
  7. Nguyễn Ngọc Điện, 2001, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, TP.HCM. 
  8. Trương Anh Tuấn, 2009, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự, Nxb Lao động, Hà Nội. 
  9. Nguyễn Văn Dương, Hợp đồng gia công là gì? Đặc điểm của hợp đồng gia công,(2021), 
  10. Đào Xuân Thủy, Bình luận về hợp đồng gia công theo Bộ luật dân sự 2015, Tạp chí kinh tế đối ngoại (2017), 
  11. Danh mục bản án 
  12. Bản án 97/2018/DSST ngày 03/07/2018 về tranh chấp hợp đồng gia công, Thư viện bản án (2018)

Trên đây là toàn bộ vấn đề giải đáp thắc mắc của mình về vấn đề: Hợp đồng gia công theo Bộ luật dân sự Việt Nam. Trong quá trình giải quyết nếu có vấn đề gì thắc mắc hoặc chưa rõ bạn có thể liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật miễn phí của Luật Quang Huy qua HOTLINE 19006588 để được hỗ trợ chi tiết.

Trân trọng./.

phone-call

GỌI HỎI ĐÁP MIỄN PHÍ

Scroll to Top