Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Trong hoạt động thi hành án hàng ngày có không ít việc, để giải quyết dứt điểm thì việc Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế là không thể tránh khỏi. Trong các biện pháp cưỡng chế mà luật quy định thì biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án tuy có những thuận lợi, nhưng trong quá trình áp dụng cũng có những khó khăn nhất định từ phía các Cơ quan hữu quan trong công tác phối hợp. Nên trong quá trình thi hành án đòi hỏi Chấp hành viên cần vận dụng đầy đủ các quy định của pháp luật trong việc phối hợp với các Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Để tìm hiểu thêm về vấn đề này em xin chọn đề 8: “Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án” làm đề bài tập học kỳ.


Khái quát về biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự

Khái niệm cưỡng chế thi hành án

Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế bắt buộc do Chấp hành viên quyết định áp dụng theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo Bản án, Quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản theo quy định tại Điều 66 Luật Thi hành án.

Nguyễn tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành án là sự sử dụng quyền lực của Nhà nước để đưa Bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực được thi hành trên thực tế theo các nguyên tắc do pháp luật Thi hành án dân sự quy định. Các nguyên tắc đó là: Chỉ áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định; Khi đủ điều kiện thi hành án và hết thời hạn tự nguyện trừ trường hợp quy định tại Điều 66 Luật thi hành án; Cần căn cứ vào nội dung bản án, điều kiện của người phải thi hành án , đề nghị của đương sự;Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết; Không được tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian mà luật cấm.

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án

Theo quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự 2014, có 6 biện pháp cưỡng chế, bao gồm: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải thi hành án; Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.

Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một trong sáu biện pháp cưỡng chế được quy định tại khoản 2 Điều 71 và được cụ thể hóa tại Điều 78 Luật Thi hành án. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là việc Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác chuyển cho Cơ quan Thi hành án hoặc người được thi hành án một phần hay toàn bộ thu nhập của người phải thi hành án để thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Bản án, Quyết định của Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Việc áp dụng biện pháp này được xác định khi người phải thi hành án có thu nhập tương đối ổn định và không tự nguyện.

Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

 Điều kiện áp dụng

Tại khoản 2 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong những trường hợp sau đây: Do đương sự thỏa thuận; Bản án, Quyết định của tòa án ấn định biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án để thi hành án;Thi hành án các khoản cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ hoặc khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

Thứ nhất, người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền (không phải trả vật trừ trường hợp người phải thi hành án, người được thi hành án có thỏa thuận khác theo Điều 114, Luật thi hành án dân sự). Nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án chình là nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án người phải thi hành án trả một khoản tiền nào đó cho người được thi hành án trong các trường hợp như: bồi thường, trả nợ, cấp dưỡng, thanh toán theo hợp đồng, tiền chênh lệch giá trị tài sản khi chia tài sản, di sản và án phí, phí thi hành án…

Thứ hai, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, tức là người phải thi hành án có thu nhập tương đối ổn định. Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và những người theo quy định pháp luật người phải thi hành án có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng thì khi thực hiện trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Khi đó, người phải thi hành án phải có khoản tiền tương đối ổn định được nhận hàng tháng như tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và căn cứ vào thu nhập mất sức thực tế hàng tháng của người phải thi hành án. Trên cơ sở đó, Chấp hành viên sẽ quyết định mức khấu trừ phù hợp với thu nhập của người phải thi hành án.

Thứ ba, việc cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án chỉ được áp dụng trong trường hợp pháp luật có quy định.

 Các loại thu nhập của người phải thi hành án

Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì thu nhập của người phải thi hành án gồm: Tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác. Các khoản thu nhập hợp pháp của người phải thi hành án ngoài tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động có thể là tiền thưởng, tiền phụ cấp chức vụ… do cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý thu nhập của người phải thi hành án trả cho người phải thi hành án. Thu nhập khác của người phải thi hành án trong trường hợp này là những khoản được nhận gắn liền với tiền lương, tiền công từ các tổ chức, cơ quan, cá nhân đang quản lý thu nhập đó. Trong trường hợp này chúng ta không được coi việc được nhận một khoản tiền do tặng cho, thừa kế, trúng sổ số… là khoản thu nhập thường xuyên. Tuy nhiên, những khoản thu nhập này đều được coi là thu nhập hợp pháp của một cá nhân nhưng không thể được coi là thu nhập thường xuyên của người phải thi hành án để áp dụng việc khấu trừ thu nhập của họ.

Vì vậy, khi xác minh người phải thi hành án có tài sản là những khoản tiền trên thì Chấp hành viên không được áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập mà lựa chọn biện pháp cưỡng chế khác phù hợp với quy định của Luật Thi hành án dân sự, như biện pháp khấu trừ tiền, thu hồi, xử lý tiền của người phải thi hành án theo khoản 1 Điều 71 Luật Thi hành án dân sự.

Cách thức trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và những người phụ thuộc của người phải thi hành án theo quy định pháp luật thì mức trừ vào thu nhập của người phải thi hành án phải phù hợp với tỉ lệ pháp luật có quy định. Cụ thể:

Mức trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động quy định mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Theo đó, khi áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án khi họ phải có thu nhập tương đối ổn định được nhận hàng tháng, từ đó Chấp hành viên sẽ tính toán và quyết định trừ nhưng không quá 30% tổng số tiền người phải thi hành án được nhận hàng tháng.

Mức trừ vào thu nhập hợp pháp khác: Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật. Như vậy, đối với những khoản thu nhập khác không phải là tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động thì mức khấu trừ không bắt buộc phải thấp hơn hoặc bằng 30% tổng số tiền thu nhập được nhận hàng tháng. Theo đó, mức khấu trừ trong trường hợp này phụ thuộc vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án. Mức trừ này có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với mức trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động của người phải thi hành án.

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án

Xác minh điều kiện thi hành án

Sau khi được phân công tổ chức thi hành quyết định thi hành án có khoản phải trả tiền, Chấp hành viên trước tiên phải tiến hành các thủ tục cần thiết và vận dụng các hiểu biết về pháp luật, đương sự cũng như phối hợp với toàn thể hệ thống chính trị tại địa phương để vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành. Sau khi việc giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện không có kết quả, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện của người phải thi hành án. Xác minh trong thi hành án dân sự là hoạt động không thể thiếu trong các hoạt động chuyên môn thi hành án. Mục đích của xác minh là giải quyết hồ sơ thi hành án cho đúng pháp luật bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên. Đối với việc thi hành án trong trường hợp này công tác xác minh cần áp dụng trong các trường hợp sau:

Cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án so với những biện pháp cưỡng chế khác là tương đối “nhẹ nhàng”. Tuy nhiên, để thực hiện được việc trừ vào thu nhập thành công, Chấp hành viên cũng cần xác minh tình trạng nhân thân của người phải thi hành án.

Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là trách nhiệm của Chấp hành viên được quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án dân sự. Để trừ vào thu nhập của người phải thi hành án với các điều kiện phân tích ở trên thì Chấp hành viên lưu ý khi xác minh các trường hợp sau:

Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng, hoặc theo thỏa thuận của các đương sự hoặc bản án, quyết định đã ấn định trừ vào thu nhập hoặc tài sản phải thi hành án không lớn. Chấp hành viên chỉ tiến hành xác minh người phải thi hành án có thu nhập thường xuyên hay không? Trong trường hợp người phải thi hành án vừa có thu nhập thường xuyên vừa có các tài sản khác (động sản hoặc bất động sản) thì Chấp hành viên vẫn ra ngay được quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành.

Đối với các trường hợp thi hành nghĩa vụ khác: Nội dung xác minh về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án phải gồm hai nội dung: Đó là người phải thi hành án không có tài sản nào để thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản đó có giá trị nhỏ không đủ để thi hành án và người phải thi hành án phải có thu nhập thường xuyên.

Để áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải trực tiếp tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Khi xác minh về thu nhập của người phải thi hành án, Chấp hành viên cần tập trung vào một số nội dung chính sau: Tổng số tiền thu nhập hàng tháng là bao nhiêu? Ai là người đang trực tiếp quản lý các nguồn thu nhập đó? Thời gian mà người phải thi hành án được nhận các khoản thu nhập đó?

Trong trường hợp người phải thi hành án có mức lương hoặc mức thu nhập thấp chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người phải thi hành án và gia đình hoặc không có tài sản nào khác tại thời điểm xác minh hoặc tuy có tài sản nhưng tài sản có giá trị nhỏ không đủ chi phí về thi hành án. Trường hợp này thì Chấp hành viên đề xuất với Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án ra Quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án theo Điều 51 Luật Thi hành án dân sự, hoặc ra Quyết định hoãn thi hành án theo điểm c khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự nếu là khoản nộp ngân sách Nhà nước.Trường hợp xác định người phải thi hành án có thu nhập và mức thu nhập đó có thể khấu trừ để thi hành án, thì Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án và tiến hành thực hiện quyết định đó.

 Ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Nội dung quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án thi hành án, Chấp hành viên phải đúng biểu mẫu được quy định tại thông tư số: 09/2011/TT-BTP ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng các loại biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự.

Thi hành quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Thông thường các Quyết định cưỡng chế đã được ban hành phải được Cơ quan Thi hành án chuẩn bị rất chu đáo, tỉ mỉ như: xây dựng kế hoạch cưỡng chế, xác minh… nhưng do đặc thù của biện pháp cưỡng chế này thuộc loại cưỡng chế không cần phải huy động lực lượng bảo vệ vì người phải thi hành án là người không trực tiếp quản lý tài sản thi hành án. Mà tài sản thi hành án đang do người thứ ba quản lý (có thể là Cơ quan Nhà nước, có thể là các tổ chức xã hội hoặc chủ sử dụng lao động). Vì vậy, Chấp hành viên không nhất thiết phải xây dựng kế hoạch cưỡng chế theo quy định tại Điều 72 Luật Thi hành án.

Việc thực hiện Quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án chính là việc tổ chức giao quyết định cưỡng chế cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý thu nhập của người phải thi hành án và yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đó thực hiện quyết định khấu trừ tiền của người phải thi hành án để thi hành. Việc giao Quyết định thường được tiến hành tại trụ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý thu nhập của người phải thi hành án. Ngoài ra, Quyết định này còn được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, người được thi hành án, người phải thi hành án theo quy định tại Điều 38 và Điều 39 Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác khi nhận được Quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập của Chấp hành viên phải có trách nhiệm thực hiện quyết định đó theo đúng các nội dung của quyết định đó.

Tại khoản 4 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 không quy định cụ thể mà chỉ quy định:“Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập khác có trách nhiệm thực hiện các quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự”.

Tuy không quy định cụ thể về thời gian thực hiện quyết định, nhưng theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì đã quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động thực hiện đúng các nội dung trong quyết định trừ vào thu nhập của Chấp hành viên đã ban hành. Trách nhiệm phối hợp của Cơ quan, tổ chức, cá nhân với Cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên thi hành quyết định trừ vào thu nhập của Chấp hành viên còn được quy định tại Điều 11 và Điều 177 Luật Thi hành án.

Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Thực tiễn việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế vào thu nhập và một số kiến nghị

Thực tiễn khi thi hành biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Thực tiễn thi hành án dân sự thời gian qua cho thấy cơ quan thi hành án dân sự gặp khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo quy định của các văn bản pháp luật về Thi hành án.

Về chủ quan, còn không ít các trường hợp các chấp hành viên vì tính phức tạp, nhạy cảm của việc cưỡng chế thi hành án nên đã vô tình hoặc cố ý áp dụng sai những thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về mặt khách quan, đối với một số trường hợp người phải thi hành án do sự đặc thù của việc cưỡng chế thi hành án nên dấn đến tâm lý phản kháng, chống trả, nên khiếu nại, tố các, bất hợp tác,tạo áp lực cho cá nhân cơ quan thi hành án khiến cho quá trình thi hành án diễn ra khó khăn, tốn nhiều công sức và thời gian. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan Thi hành án cũng gặp không ít khó khăn nhất là trong công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan.

 Một số kiến nghị

Thủ tục phải đảm bảo chặt chẽ trong cưỡng chế thi hành án

Thi hành án là một quá trình gồm nhiều thủ tục pháp lý liên quan chặt chẽ với nhau, thủ tục ban đầu sẽ làm tiền đề cho các thủ tục tiếp theo. Nếu việc thiết lập thủ tục ban đầu chặt chẽ thì quá trình giải quyết việc thi hành án tiếp theo sẽ gặp thuận lợi.

Ngoài ra, cưỡng chế thi hành án dân sự là một thủ tục nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người phải thi hành án. Do vậy, việc khiếu nại, tố cáo trước, trong và sau khi cưỡng chế thi hành án xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Nếu thủ tục ban đầu Chấp hành viên không thực hiện được một cách đầy đủ và đúng pháp luật, thì khi có khiếu nại phát sinh, Cơ quan Thi hành án không có cơ sở bác khiếu nại của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, buộc phải công nhận khiếu nại là đúng thì cả một quá trình thi hành án sẽ bị ngưng trệ, thậm chí phải làm lại từ đầu, gây tốn kém về thời gian, tiền bạc của Nhà nước và công dân.

Các bước chuẩn bị trước khi cưỡng chế thi hành án

Cưỡng chế là biện pháp cuối cùng mà Chấp hành viên phải áp dụng khi đã áp dụng mọi biện pháp nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành. Họ luôn có thái độ chống đối, gây khó khăn vì vậy khi bị cưỡng chế luôn mong muốn việc cưỡng chế không thể thực hiện được vì ảnh hưởng đến danh dự. Muốn vậy, Chấp hành viên phải có công tác chuẩn bị cưỡng chế thật tốt trước khi thực hiện việc cưỡng chế. Nếu Chấp hành viên tổ chức thực hiện không được việc cưỡng chế sẽ tạo tiền lệ sấu về tâm lý, pháp luật bị coi thường. Anh hưởng đến quyền lợi của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhất là ý nghĩa, mục đích giáo dục pháp luật trong công tác thi hành án đối với quần chúng nhân dân sẽ không đạt được.

Quá trình cưỡng chế thi hành án dân sự không cho phép Chấp hành viên kéo dài thời gian, Luật quy định, Chấp hành viên không được tổ chức cưỡng chế thi hành án từ 22 giờ đêm đến 06 giờ sáng.

Vì vậy, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên tuyệt đối phải thực hiện đúng và đầy đủ các nguyên tắc trong cưỡng chế thi hành án dân sự, đảm bảo trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án, đồng thời, phải luôn nâng cao ý thức bảo đảm cho việc cưỡng chế thi hành án dân sự được an toàn, hiệu quả trong quá trình tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự trên thực tế.

Áp dụng công nghệ vào quá trình thi hành án

Cùng với sự phát triển thì việc phân phát lương thưởng của các công ty thường sẽ được thanh toán điện tử, vì vậy để đảm bảo cho quá trình thi hành án nhanh gọn, chính xác, giảm bớt nhân lực, thời gian , cần có quy định hướng dẫn, hỗ trợ để chuyển đổi phương thức trừ vào thu nhập thông qua việc chuyển khoản hay thanh toán điện tử.


Trên đây là toàn bộ tư vấn về: Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mọi thắc mắc của bạn liên quan tới vấn đề này hoặc cần tư vấn về bồi thường, hợp đồng hay muốn sử dụng các dịch vụ về dân sự, bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được hỗ trợ cụ thể.

Trân trọng./.

phone-call

GỌI HỎI ĐÁP MIỄN PHÍ

Scroll to Top