Luật thuế tiêu thụ đặc biệt những bất cập và kiến nghị

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt những bất cập và kiến nghị

Đặt vấn đề

Xã hội ngày càng phát triển với nền kinh tế đang có sự chuyển mình, thuế tiêu thụ đặc biệt ngày càng có vai trò quan trọng hơn, góp thêm một phần vào ngân sách nhà nước. Trong nền kinh tế hội nhập như vậy, với việc thực thi các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế quan thì thuế tiêu thụ đặc biệt trở thành công cụ góp phần điều tiết thu nhập, định hướng tiêu dùng và xã hơn là quản lý vĩ mô nền kinh tế. 

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu đánh vào những loại hàng hóa, dịch vụ mà nhà nước không khuyến khích tiêu dùng, theo đó việc quy định hàng hóa dịch vụ nào chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt là bao nhiêu có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp và người tiêu dùng. 

Thực tế rằng qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1998, 2003, 2005 và mới đây nhất là 2008, tuy đã có những tích cực trong việc hướng dẫn sản xuất, điều tiết tiêu dùng của xã hội nhưng vẫn bộc lộ những bất cập trong việc quy định các đối tượng chịu thuế và sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Do đó cần thiết có những giải pháp để hoàn thiện pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt.

Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích những quy định về thuế thu nhập đặc biệt hiện hành, phân tích được ưu và nhược điểm của các quy định về thuế thu nhập đặc biệt từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập đặc biệt

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp viết luận, phương pháp so sánh, phương pháp liệt kê, phương pháp thống kê.

Khái quát chung về luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước. Mác đã từng viết: “ Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của nhà nước”. Trải qua nhiều thời kì với sự thay đổi của xã hội và kinh tế thị trường, nhìn chung có thể định nghĩa thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các cá nhân, pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước, không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng. Theo đó ba vai trò quan trọng nhất của thuế là duy trì hoạt động bộ máy nhà nước, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, đồng thời góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội. 

Trong chức năng đảm bảo bình đẳng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế- đời sống xã hội, thì thuế tiêu thụ đặc biệt – một bộ phận của thuế nhà nước, có vai trò cực kì quan trọng. Từ các quy định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, có thể thấy thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, thu vào một số hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cần điều tiết thu nhập và hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng. Từ việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt nhà nước điều chỉnh hoạt động sản xuất, tiêu dùng đối với một số hàng hóa đặc biệt, mang tính chất xa xỉ do các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ. Việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đánh thuế tiêu thụ đặc biệt chủ yếu dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế xã hội, phong tục tập quán, chính sách tiêu dùng, yêu cầu động viên ngân sách, khả năng quản lý, giám sát của quốc gia đó. Nhìn chung, các hàng hoá, dịch vụ được lựa chọn để đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đều là hàng hoá, dịch vụ cao cấp vượt trên nhu cầu phổ thông của đời sống xã hội. Hoặc là các loại hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng không có lợi cho sức khoẻ, môi trường gây lãng phí cho xã hội và tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá – xã hội. Đồng thời lượng cầu của hàng hoá, dịch vụ này thường biến động theo thu nhập, ít biến động theo giá cả. Ví dụ như thuốc lá thì thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt là 75% làm tăng giá cả thuốc lá bán ra góp phần hạn chế sản xuất cũng như tiêu dùng mặt hàng này.

Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt

Từ khái niệm trên ta có thể rút ra một số đặc điểm sau của thuế tiêu thụ đặc biệt như sau:

Thứ nhất, thuế tiêu thụ đặc biệt có tính chất gián thu. Gián thu có nghĩa là thu một cách gián tiếp. Ở đây người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một. Thông qua giá cả của hàng hóa dịch vụ tiêu thụ đặc biệt, thuế tiêu thụ đặc biệt được đánh gián tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng mặt hàng dịch vụ đó. Theo đó người sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu mặt hàng tiêu thụ đặc biệt sẽ nộp thuế cho Nhà nước thay cho người tiêu dùng và chuyển khoản thuế đó vào giá cả sản phẩm, dịch vụ bán ra, do vậy người tiêu dùng cuối cùng là người phải gánh chịu.

Thứ hai, thuế tiêu thụ đặc biệt có đối tượng chịu thuế hẹp, chỉ bao gồm một số hàng hóa, dịch vụ nhà nước cần điều tiết. Theo Luật số 106/2016/QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế giá trị gia tăng, luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật quản lý thuế thì hiện nay nhà nước ta đánh thuế tiêu thụ đặc biệt lên mười loại hàng hóa và sáu loại dịch vụ. Theo đó những đối tượng này là những hàng hóa dịch vụ có tính chất đặc biệt hoặc là loại xa xỉ phẩm cần điều tiết thu nhập hoặc cần định hướng sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng do việc tiêu dùng có ảnh hưởng tiêu cực đến con người nhưng không thể cấm tiêu dùng ví dụ như do nền văn hóa thờ cúng từ xa xưa nên tục đốt vàng mã không thể bỏ mặc dù có ảnh hưởng xấu đến môi trường do đó vàng mã được xếp vào loại hàng hóa bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt.

Thứ ba, thuế tiêu thụ đặc biệt thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản xuất và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó nhằm điều tiết một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ này. Giá cả hàng hóa dịch vụ và tính chất hàng hóa dịch vụ tỉ lệ nghịch với nhau, ví dụ những hàng hóa có ảnh hưởng tiêu cực càng lớn thì thuế tiêu thụ đặc biệt đánh càng cao. Do đó sẽ tạo ra tính cân nhắc khi sử dụng những hàng hóa dịch vụ này của người tiêu dùng. Dưới góc độ điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ xa xỉ, thuế tiêu thụ đặc biệt còn góp phần khắc phục hạn chế về công bằng theo chiều dọc của thuế giá trị gia tăng

Thứ tư, thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ thu một lần trong suốt quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng với điều kiện trong quá trình đó hàng hóa không thay đổi công năng, tính năng sử dụng, hình dáng thể hiện. Đặc điểm này cho phép phân biệt thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế giá trị gia tăng khi thuế giá trị gia tăng được thu trên mỗi khâu sản xuất, luân chuyển của hàng hóa dịch vụ

Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt

Từ các đặc điểm trên có thể thấy thuế tiêu thụ đặc biệt có vai trò rất lớn như sau:

Thứ nhất, thông qua chế độ thu thuế tiêu thụ đặc biệt, Nhà nước động viên một phần thu nhập đáng kể của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước. Điều này tạo ra nguồn thu nhập lớn cho ngân sách nhà nước. Trung bình thuế tiêu thụ đặc biệt chiếm khoảng 15- 18% trong tổng số thuế gián thu và chiếm từ 9- 10% tổng số thu từ thuế và phí hàng năm của Nhà nước. 

Thứ hai, thuế tiêu thụ đặc biệt là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng hướng dẫn sản xuất và điều tiết tiêu dùng xã hội. Bởi vì việc đánh thuế cao sẽ làm hạn chế việc sản xuất, cung ứng một số hàng hoá, dịch vụ mà việc sản xuất, tiêu dùng gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, có hại cho sức khoẻ của người dân làm ảnh hưởng tới sự phát triển của quốc gia về kinh tế, chính trị, xã hội. Do đó, thuế tiêu thụ đặc biệt còn nhằm điều chỉnh nguồn lực tài chính có lợi cho lợi ích quốc gia trên các phương diện kinh tế, xã hội, chính trị.

Thứ ba, thuế tiêu thụ đặc biệt góp phần tái phân phối thu nhập của người có thu nhập cao. Đảm bảo tính công bằng xã hội với nguyên lý: ai tiêu dùng nhiều các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì nộp thuế nhiều hơn người tiêu dùng ít hoặc không phải nộp thuế nếu không tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó.

Thứ tư, việc ban hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt để điều chỉnh việc sản xuất, kinh doanh, lưu thông và tiêu dùng một số hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu xã hội thể hiện sự tăng cường quản lý, kiểm soát của Nhà nước một cách tập trung, chặt chẽ đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này. Nó được coi là công cụ đắc lực của Nhà nước giúp điều tiết tiêu dùng trong dân cư. Việc đăng ký, kê khai và nộp thuế là cơ sở quan trọng để Nhà nước quản lý, điều tiết những hàng hóa, dịch vụ nhạy cảm, tác động đến nền kinh tế – xã hội.

Thực trạng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Những đối tượng chịu thuế và không chịu thuê tiêu thụ đặc biệt

Hiện nay pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt quy định về mười sáu mặt hàng dịch vụ bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt, trong đó hàng hóa bị đánh thuế bao gồm: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; Rượu; Bia; Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng; Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3; Tàu bay, du thuyền; Xăng các loại; Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống; Bài lá; Vàng mã, hàng mã. Dịch vụ bị đánh thuế bao gồm: Kinh doanh vũ trường; Kinh doanh massage, karaoke; Kinh doanh casino; trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy jackpot, máy slot và các loại máy tương tự; Kinh doanh đặt cược; Kinh doanh golf bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; Kinh doanh xổ số. Theo đó ta có thể thấy rằng, các hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB đều là những hàng hóa, dịch vụ cần hạn chế tiêu dùng do có hại cho sức khỏe, ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sống hay có tính chất mê tín, dị đoan (như thuốc lá, rượu, bia, vàng mã) hoặc các hàng hóa, dịch vụ không khuyến khích tiêu dùng do không có tác động xấu, rõ ràng đến sức khỏe người dân nên yêu cầu hạn chế thấp hơn (như kinh doanh đặt cược, casino) hoặc những hàng hóa, dịch vụ xa xỉ cần điều tiết thu nhập (điều hòa nhiệt độ 90.000BTU trở xuống, ô tô, du thuyền, tàu bay). Nhìn chung, nguyên tắc xây dựng đối tượng chịu thuế trong Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành của Việt Nam tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó các quy định trên của pháp luật vẫn bộc lộ nhiều hạn chế chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, thị trường hiện tại, cũng như để phát huy tốt vai trò của thuế TTĐB đối với nền kinh tế thị trường, cụ thể như sau:

Nhìn chung những đối tượng chịu thuế còn khá hẹp, chưa theo kịp với tình hình thực tế khi có những hàng hóa, dịch vụ đáng lẽ phải được điều chỉnh bởi thuế tiêu thụ đặc biệt như nước có ga, các loại điện tử thiết bị cao cấp,kinh doanh cầm đồ, kinh doanh trò chơi điện tử… lại chưa được đưa vào diện chịu thuế. Ngược lại có những mặt hàng cần khuyến khích tiêu dùng do yêu cầu sức khỏe, văn minh đô thị thì lại chưa được đưa ra khỏi diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như xe ô tô dưới 24 chỗ. Một số đối tượng không được quy định rõ ràng còn tạo ra nhiều vướng mắc ví dụ như đối với mặt hàng tàu bay, du thuyền: Tàu bay, du thuyền là những mặt hàng cao cấp phục vụ cho các đối tượng có thu nhập cao trong xã hội. Do sự phát triển của kinh tế – xã hội, một bộ phận dân cư có thu nhập cao có khả năng sở hữu tàu bay, du thuyền. Trong Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành quy định tàu bay sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, khách du lịch không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, theo đó tàu bay, du thuyền dùng cho mục đích khác như tiêu dùng của tổ chức, cá nhân phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Thực tế phát sinh một số trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu tàu bay về phục vụ cho an ninh, quốc phòng mà xét về bản chất không thuộc diện thu thuế tiêu thụ đặc biệt, do chưa có quy định nên phát sinh vướng mắc. Giống như mặt hàng tàu bay, du thuyền, luật quy định điều hòa nhiệt độ công suất dưới 90.000BTU là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt tuy nhiên đối với những điều hòa công suất dưới 90.000BTU nhưng là tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất, lắp ráp phương tiện vận tải và trong hoạt động vận tải hành khách có thu thuế hay không, nêu thu thì sẽ là khoản thu không hợp lý

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt những bất cập và kiến nghị
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt những bất cập và kiến nghị

Thuế suất

Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt có sự khác nhau giữa các nhóm hàng hóa dịch vụ dựa vào mục đích quản lý của Nhà nước. Biểu thuế suất hiện hành có 19 mức thuế suất khác nhau từ 5% đến 150% được áp dụng cho các loại hàng hoá và dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, theo nguyên tắc: 

Các thuế suất (từ 65% – 75%) được áp dụng cho mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng, những mặt hàng không có lợi cho sức khoẻ và quốc kế dân sinh, nhằm hướng dẫn tiêu dùng và điều tiết đáng kể thu nhập của người tiêu dùng. Thuộc loại này chủ yếu là các mặt hàng: thuốc lá, vàng mã, hàng mã, rượu trên 40 độ, bia. Các mức thuế suất này được xây dựng căn cứ trên thống kê tình hình tiêu thụ, dự báo nhu cầu, mục tiêu hạn chế, mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người, trình độ phát triển kinh tế – xã hội, … kể cả mức độ buôn lậu để xác định mức thuế suất phù hợp với mục tiêu hạn chế tiêu dùng trên nguyên tắc là hướng tới giảm dần các sản phẩm có hại cho sức khỏe người dân. 

Các thuế suất thấp hơn (từ 20% – 40%) được áp dụng cho các hàng hoá, dịch vụ không khuyến khích tiêu dùng khác, do yếu tố cần hạn chế thấp hơn do không có tác động xấu và rõ ràng đến sức khỏe người dân hoặc nhằm mục đích điều tiết hợp lý một phần thu nhập của người tiêu dùng. Thuộc loại này chủ yếu là các mặt hàng: rượu nhẹ dưới 20 độ; tàu bay, du thuyền; kinh doanh mát xa, karaoke, casino, đặt cược, trò chơi có thưởng,…

Các thuế suất (Từ 5% – 20%) được áp dụng cho các mặt hàng được coi là cần thiết đối với một số ngành sản xuất, cần thiết và là thói quen tiêu dùng của người dân nhằm điều tiết thu nhập ở mức thuế suất thấp hơn. Thuộc loại này chủ yếu là các mặt hàng: xăng các loại, ; ô tô từ 16 đến dưới 24 chỗ ; điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống ; kinh doanh sân gôn; kinh doanh xổ số…

Có thể thấy việc quy định về mức thuế suất sao cho phù hợp với nhu cầu xã hội đã được nhà nước chú trọng và chia ra từng mốc áp dụng. Tuy nhiên thực tế cho thấy việc quy định thuế suất của một số mặt hàng còn thấp chưa phù hợp với mặt bằng chung của các nước trên thế giới. Ví dụ như đối với mặt hàng thuốc lá, theo khuyến nghị của Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Ngân hàng Thế giới thì thuế thuốc lá nên chiếm khoảng từ 65%-80% giá bán lẻ. Tuy nhiên hiện tại mức thuế suất thuốc lá chỉ đang chiếm khoảng 51% giá bán lẻ, là nước có mức thuế thuốc lá thấp gần nhất so với các nước trong khu vực (Brunei là 81%, Thái Lan là 70%…) và rất thấp so với các nước phát triển (Pháp 80%, Đức 73%…). Điều này đã dẫn đến những hệ quả khôn lường cho thanh thiếu niên khi họ có thể dễ dàng mua thuốc. Nghiên cứu cho thấy việc tăng thuế rất có hiệu quả trong việc giảm sử dụng thuốc lá ở nhóm thu nhập thấp và ngăn chặn những người trẻ tuổi bắt đầu hút thuốc. Khi tăng thuế thuốc lá sao cho giá thuốc lá tăng thêm 10%, sẽ giúp giảm tiêu thụ thuốc lá khoảng 4% ở các nước có thu nhập cao và khoảng 8% ở hầu hết các nước có thu nhập thấp và trung bình. Kết quả này đã được chứng minh ở các quốc gia áp dụng việc tăng thuế tiêu thụ đặc biệt với mặt hàng này. Do đó, quy định mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cần có những điều chỉnh hợp lý để ngăn chặn loại hàng hóa có hại có sức khỏe con người.

Người nộp thuế

Theo quy định của pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành, đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt bao gồm: các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, đoàn thể xã hội; các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có nhập khẩu, sản xuất hàng hoá hay kinh doanh các dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. 

Thực trạng hiện nay cho thấy do sự lỏng lẻo của pháp luật dẫn đến tình trạng không nộp, nộp chậm thuế của các đối tượng nộp thuế. Hiện nay còn tồn tại tình trạng khá nhiều doanh nghiệp thành lập ra không vì mục đích kinh doanh mà để mua bán các hóa đơn của nhà nước rồi bán lại cho các cá nhân, tổ chức khác để sử dụng vào việc khấu trừ khống tiền thuế của nhà nước và hợp thức hóa buôn lậu để trốn thuế, rút ruột tiền chi của ngân sách nhà nước ở các công trình xây dựng cơ bản, những đơn vị hành chính sự nghiệp. 

Miễn giảm thuế

Theo quy định của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt thì có một số trường hợp sẽ được xét giảm thuế tiêu thụ đặc biệt ví dụ như với các cơ sở sản xuất bia quy mô nhỏ nếu nộp đủ thuế tiêu thụ đặc biệt mà bị lỗ thì được xét giảm thuế tiêu thụ đặc biệt tương ứng với số lỗ trong năm xét giảm thuế hoặc là đối với cơ sở sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn do thiên tai, địch họa, tai nạn bất ngờ thì được xét giảm thuế, miễn thuế,…. Các quy định trên nhằm mục đích bảo vệ hoạt động của doanh nghiệp trong những trường hợp không thể lường trước. Tuy nhiên với tình hình hiện nay khi nước ta đang mở cửa hội nhập và tham gia nhiều công ước quốc tế như hiệp định thương mại Việt Mỹ, chương trình CEPT,… thì các quy định này vô hình chung đã xâm phạm vào nguyên tắc đãi ngộ quốc gia 

Các chế tài xử lý hành vi vi phạm pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Nhìn chung các chế tài xử lý hành vi trốn thuế, không nộp hoặc nộp chậm còn chưa có sức răn đe dẫn đến tâm lý coi thường và trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế. Tình trạng gian lận, trốn thuế còn khá phổ biến một phần do nghiệp vụ và ý thức của cán bộ thuế còn thấp, chưa có chế tài xử lý thích đáng đối với cán bộ có hiện tượng tha hóa, giúp các đối tượng nộp thuế trốn thuế của Nhà nước. Ví dụ như vụ tập đoàn ASANZO mua “linh kiện” nhưng lại ghi nội dung hóa đơn là “mặt hàng thành phẩm” để không khai thuế tiêu thụ đặc biệt; sau đó bán hàng thành phẩm không xuất hóa đơn…Với số tiền phạt, truy thu, chậm nộp hiện tại lên đến 68 tỷ đồng.

Kiến nghị và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thuế tiêu thụ đặc biệt

Để hoàn thiện pháp luật về thuế tiêu thị đặc biệt thì điều cần thiết lúc này là phải có một kế hoạch dài hạn dựa trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những quy định trong pháp luật thuế hiện hành và trong các thông lệ quốc tế. Sau đó cần mở rộng đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trên cơ sở phân loại các nhóm mặt hàng cần thực hiện chủ trương điều tiết đúng hướng sản xuất, tiêu dùng và phân phối thu nhập để đưa thêm một số hàng hóa, dịch vụ và đánh thuế tiêu thụ đặc biệt sao cho đảm bảo tính công bằng, giảm bớt phân hóa giàu nghèo trong xã hội.

Một yếu tố quan trong nữa đó chính là nâng cao ý thức pháp luật cho người dân và các đối tượng nộp thuế. Để họ biết rằng đây là trách nhiệm của mình với đất nước. Hơn hết để công tác triển khai, thu và nộp thuế có hiệu quả cần phải có những chế tài đủ sức răn đe đối với những hành vi vi phạm. Phải đào tạo đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm, nâng cao công tác quản lý và đào tạo cán bộ thuế. 


Kết luận

Trong bối cảnh tình hình hiện nay, khi mà sự hợp tác kinh tế giữa các nước đang mở rộng theo xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa, thì thuế tiêu thụ đặc biệt trở thành công cụ hữu hiệu của Nhà nước để quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, giúp giảm phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Hiện nay, thuế tiêu thụ đặc biệt  không chỉ là mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, của các nhà nghiên cứu mà còn của cả các doanh nghiệp và đông đảo quần chúng nhân dân. Trước tình hình đó Nhà nước cần có những bước đi đúng đắn trong việc thay đổi chính sách liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt sao cho phù hợp với sự phát triển và hội nhập của đất nước


Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Phân tích những quy định về thuế thu nhập đặc biệt hiện hành, phân tích được ưu và nhược điểm của các quy định về thuế thu nhập đặc biệt từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập đặc biệt. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.
Trân trọng./.

phone-call

GỌI HỎI ĐÁP MIỄN PHÍ

Scroll to Top