Phân tích mối quan hệ của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư với các ngân hàng thương mại trong hoạt động đầu tư

Phân tích mối quan hệ của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư với các ngân hàng thương mại trong hoạt động đầu tư

        Thị trường chứng khoán là môi trường khá mới tại Việt Nam, đây được hiểu là nơi diễn ra hoạt động mua bán chứng khoán. Khái niệm chứng khoán được Luật Chứng khoán 2006, SĐ, BS 2010 giải thích rõ. Dưới góc độ pháp lý, chứng khoán được xác định là một quyền tài sản mà người nắm giữ có quyền sở hữu, định đoạt đối với loại quyền này. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về một số chủ thể trong thị trường chứng khoán gồm công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư với các ngân hàng thương mại trong hoạt động đầu tư? Hoạt động như thế nào? Và hoạt động của các chủ thể này có mối quan hệ như thế nào với nhau? Làm sao để họ đầu tư trên thị trường chứng khoán an toàn về mặt pháp lý.


Danh mục tài liệu khảo:

  • Giáo trình luật chứng khoán, Trường ĐH Luật HN, 2008.
  • Luật Chứng khoán 2006, SĐ,BS 2010.
  • Nghị định 58/2012/NĐ-CP Hướng dẫn một số điều của luật chứng khoán và luật chứng khoán sửa đổi.
  • Thông tư 203/2015/TT-BTC Về giao dịch trên thị trường chứng khoán.

Khái quát chung

Một số khái niệm chung

      Theo giải thích của Luật Chứng khoán 2006, SĐ,BS 2010, Chứng khoán được hiểu là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành, gồm các loại:

      Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;

     Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán;

      Hợp đồng góp vốn đầu tư;

      Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.

    Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán, nói một cách ngắn gọn thì đây là nơi diễn ra việc mua, bán chứng khoán sau phát hành. Do đó, hoạt động này được thực hiện trên thị trường thứ cấp.

      Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

      Đầu tư tài chính là một hình thức đầu tư chủ yếu thông qua hình thức mua chứng khoán hoặc các công cụ tài chính khác. Nhà đầu tư tài chính sử dụng vốn nhàn rỗi với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, gia tăng giá trị vốn đầu tư ban đầu với chiến lược lâu dài, chủ yếu mua chứng khoán.

Công ty chứng khoán

      Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH được thành lập, hoạt động theo Luật chứng khoán và các quy định khác của pháp luật để thực hiện một, một số nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo giấy phép do  Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấp.

      Trên thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán thực hiện các nghiệp vụ như: Môi giới chứng khoán;Tự doanh chứng khoán;Bảo lãnh phát hành chứng khoán; Tư vấn đầu tư chứng khoán và một số hoạt động khác theo quy định của luật Chứng khoán.

      Công ty chứng khoán có ba đặc điểm cơ bản: Luôn có tư cách pháp nhân, luôn có điều kiện kinh doanh và luôn đặt ra yêu cầu công bố thông tin.

Công ty quản lý quỹ

      Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán ( gọi tắt là công ty quản lý quỹ)  là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán.

      Nghiệp vụ kinh doanh của công ty quản lý quỹ được quy định tại điều 61 luật Chứng khoán 2006, SĐ năm 2010. Bao gồm 3 nghiệp vụ cơ bản là quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán.

      Hoạt động của công ty quản lý quỹ gắn liền với hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và hoạt động đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán quyết định việc có thể đầu tư chứng khoán hay không của quỹ đầu tư chứng khoán trong trường hợp quỹ chỉ tồn tại dưới dạng quỹ tiền, không thành lập công ty đầu tư chứng khoán.

Ngân hàng giám sát

      Theo quy định tại khoản 1 điều 98 Luật Chứng khoán, Ngân hàng giám sát thực chất là ngân hàng thương mại đảm bảo các điều kiện theo quy định của Luật chứng khoán và được phép thực hiện hoạt động giám sát hoạt động của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán.

      Hoạt động giám sát của ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cả về mặt kinh tế và pháp lý cho thị trường chứng khoán, tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư, cũng góp phần quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.

Mối quan hệ giữa công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư và ngân hàng giám sát trong hoạt động đầu tư

      Ba chủ thể nêu trên đều tham gia thị trường chứng khoán, mỗi chủ thể có vai trò nhất định với những hoạt động nghiệp vụ được pháp luật quy định rõ, cùng với những điều kiện chặt chẽ đảm bảo mục đích hoạt động hiệu quả nhất. Tuy nghiệp vụ của mỗi chủ thể là khác nhau song giữa công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư và ngân hàng giám sát có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau.

Mối quan hệ giữa công ty chứng khoán với công ty quản lý quỹ

      Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ là hai chủ thể trực tiếp thực hiện nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường chứng khoán trên cơ sở quy định của Luật chứng khoán và sự cho phép của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Theo quy định của pháp luật chứng khoán hiện hành thì hai chủ thể này có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động của thị trường chứng khoán, thậm chí quyết định đến sự hoạt động của thị trường và khả năng có thể đầu tư của một nhóm nhà đầu tư theo một số hình thức nhất định.

      Quan hệ giữa công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ là mối quan hệ hai chiều, tác động qua lại với nhau:

      Trong đó, gọi một cách cơ bản, chung nhất thì công ty quản lý quỹ đầu tư là khách hàng của công ty chứng khoán, còn công ty chứng khoán giữ vai trò trung gian, giúp công ty quản lý quỹ thực hiện các giao dịch về chứng khoán. Bên cạnh đó, công ty quản lý quỹ và công ty chững khoán cũng có thể xem xét là đối thủ cạnh tranh trong một số trường hợp. Cụ thể như sau:

      a/ Mối quan hệ khách hàng – trung gian.

      Theo quy định của luật chứng khoán hiện hành, công ty chứng khoán là chủ thể duy nhất được quyền thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán.

      Căn cứ khoản 20 điều 6 luật Chứng khoán SĐ năm 2010, môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng. Việc công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán cho khách hàng được thực hiện trên cơ sở uỷ quyền.

      Nội dung của nghiệp vụ môi giới gồm 3 hoạt động chính là:

  • Mở tài khoản giao dịch cho khách hàng.
  • Quản lý tiền và chứng khoán trên tài khoản cho khách hàng.
  • Nhận lệnh giao dịch và gửi lệnh đến Sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán để khớp lệnh, hoàn thành giao dịch cho khách hàng.

      Trong đó, hoạt động thứ ba – nhận lệnh giao dịch – chính là mấu chốt để xác định quan hệ giữa hai chủ thể này.

      Chu trình của một lần khớp lệnh là khách hàng sẽ đặt lệnh, có thể đặt trực tiếp hoặc đặt bằng phiếu lệnh, sau khi khách hàng điền đẩy đủ thông tin, công ty chứng khoán sẽ nhập lệnh vào hệ thống và gửi đến Sở giao dịch chứng khoán, tại đây Sở sẽ thực hiện việc khớp lệnh mua/bán chứng khoán cho khách hàng.

      Khách hàng của công ty chứng khoán là những chủ thể đầu tư kinh doanh chứng khoán trên thị trường, có thể là cá nhân trực tiếp nắm giữ chứng khoán hoặc người đại diện theo uỷ quyền, uỷ thác của người nắm giữ, mà công ty quản lý quỹ là trường hợp được chủ đầu tư uỷ thác thực hiện hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán.

      Điều 61 luật Chứng khoán quy định Công ty quản lý quỹ đầu tư được quyền thực hiện 3 nghiệp vụ chính là quản lý quỹ đầu tư chứng khoán , quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán.

      Theo quy định tại điều 6 luật Chứng khoán hiện hành thì Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán và các tài sản khác. Còn quản lý quỹ đầu tư chứng khoán là việc quản lý theo uỷ thác đối với quỹ hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư. Trong đó, nội dung hoạt động quản lý quỹ đầu tư rộng hơn hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

      Hoạt động quản lý quỹ đầu tư và quản lý danh mục đầu tư được thực hiện trên cơ sở sự uỷ thác của nhà đầu tư. Tức là công ty quản lý quỹ có sử dụng nguồn vốn của các nhà đầu tư trực tiếp đầu tư vào thị trường chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận cho nhà đầu tư hoặc quỹ đầu tư.

      Chính bởi pháp luật quy định môi giới chứng khoán, cụ thể việc nhận và chuyển lệnh là nghiệp vụ chỉ công ty chứng khoán được thực hiện, do đó, khi công ty quản lý quỹ muốn thay mặt nhà đầu tư hoặc quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện giao dịch chứng khoán thì phải đặt lệnh và thực hiện thông quan công ty chứng khoán, sau đó, công ty quản lý quỹ trả cho công ty chứng khoán một khoản phí nhất định là thù lao cho việc thực hiện giao dịch.

      Như vậy, công ty quản lý quỹ được xác định là khách hàng của công ty chứng khoán, còn công ty chứng khoán là cầu nối để công ty quản lý quỹ thực hiện các giao dịch chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận. Nếu không có công ty chứng khoán thì công ty quản lý quỹ không thể thực hiện giao dịch chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận, ngược lại, nếu không có công ty quản lý quỹ thì công ty chứng khoán thiếu hụt một lượng khách hàng lớn và giảm hiệu quả từ hoạt động kinh doanh. Như vậy, hai chủ thể này có mối quan hệ khăng khít với nhau.

      b/ Mối quan hệ đối thủ cạnh tranh.

      Trong các nghiệp vụ kinh doanh được quy định tại điều 60 và điều 61 Luật Chứng khoán, có thể thấy, công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đều được thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.

      Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán. Đây là nhu cầu của nhiều nhà đầu tư chứng khoán nhằm hướng đến mục tiêu đầu tư hiệu quả, hạn chế tối đa rủi ro trong hoạt động đầu tư.

      Khi có nhiều chủ thể thực hiện cùng một nghiệp vụ thì người có nhu cầu tư vấn sẽ có quyền lựa chọn, do đó, xem xét dưới góc độ này, công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư cùng thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư cho đối tượng là chứng khoán, cùng một nhóm khách hàng, do đó, không thể tránh khỏi việc cạnh tranh với nhau trong việc thực hiện nghiệp vụ cũng như tìm kiếm khách hàng.

Mối quan hệ giữa ngân hàng giám sát với công ty quản lý quỹ

      Trong mối quan hệ giữa ngân hàng giám sát với công ty quản lý quỹ, sự tác động cũng diễn ra theo hai chiều qua lại, tác động lẫn nhau. Để làm rõ, sau đây chúng ta sẽ phân tích sự tác động hai chiều trong mối quan hệ này.

      a/ Quan hệ giữa ngân hàng giám sát với công ty quản lý quỹ

      Nếu xem xét dưới góc nhìn từ phía ngân hàng giám sát đối với công ty quản lý quỹ thì ngân hàng giám sát được xem là chủ thể vừa hỗ trợ hoạt động của hai loại hình công ty này, vừa đóng vai trò là chủ thể giám sát, vừa tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư tài chính trong một số trường hợp, trong đó, quan trọng nhất là vai trò giám sát.

  • Ngân hàng thương mại là chủ thể giám sát hoạt động công ty quản lý quỹ.

      Đầu tư chứng khoán là hoạt động kinh doanh đặc thù, nhà đầu tư không trực tiếp thực hiện mọi giai đoạn trong hoạt động đầu tư mà thực hiện thông qua chủ thể khác, thậm chí việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư cũng phải uỷ thác cho chủ thể khác thực hiện ( ví dụ công ty quản lý quỹ), do đó, sự giám sát của ngân hàng giám sát là cần thiết.

      Trước hết, xuất phát từ việc nhà đầu tư thực hiện đầu tư thông qua các chủ thể khác trong thị trường nên việc giám sát của ngân hàng tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư trong việc đảm bảo an toàn nguồn vốn, minh bạch trong quá trình đầu tư và kiểm soát lợi nhuận.

      Thứ hai, các nhà đầu tư xuất phát điểm khác nhau, số lượng các nhà đầu tư không chuyên nghiệp trong thị trường không hề nhỏ. Họ bỏ vốn ra đầu tư song không đủ chuyên nghiệp, không am hiểu nghiệp vụ đầu tư chứng khoán hay vì không đủ thời gian kiểm soát hoạt động của các chủ thể thay mình thực hiện đầu tư chứng khoán như công ty đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ…Nên các nhà đầu tư đòi hỏi phải có một chủ thể có đủ chuyên môn để kiểm tra hoạt động sử dụng, quản lý vốn của mình, đảm bảo thực hiện đúng pháp luật và nghĩa vụ đã cam kết.

      Thứ ba, xuất phát từ đặc thù của chứng khoán. Chứng khoán là một quyền tài sản của nhà đầu tư, song việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư chứng khoán, ví dụ quỹ đầu tư lại thuộc về công ty quản lý quỹ đầu tư. Tức là có sự tách biệt giữa quyền tài sản với quyền quản lý, điều này tạo điều kiện cho công ty quản lý quỹ đủ thẩm quyền tiến hành các hoạt động đầu tư xong cũng khiến các nhà đầu tư không yên tâm về vốn của mình, đặc biệt là khi cả tiền lẫn chứng khoán đầu tư đều nằm trên tài khoản mà nhà đầu tư không trực tiếp nắm giữ.

      Từ ba đặc điểm trên đòi hỏi có một chủ thể cần đứng ra giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của công ty quản lý quỹ, vừa đảm bảo việc tuân thủ pháp luật và bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ cũng như hiệu quả đầu tư vốn.

      Nội dung việc giám sát của ngân hàng đối với công ty quản lý quỹ gồm một số hoạt động được quy định tại khoản 2 điều 98 Luật Chứng khoán như:

      + Giám sát để đảm bảo công ty quản lý quỹ thực hiện đúng quy định cả pháp luật và điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán. ( điểm c)

      +  Xác nhận báo cáo do công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán lập có liên quan đến quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán; ( điểm đ).

      + Giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công bố thông tin của công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán ( điểm e).

      + Báo cáo Uỷ ban chứng khoán Nhà nước khi phát hiện công ty quản lý quỹ có vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệ. ( Điểm g).

      +  Định kỳ cùng công ty quản lý quỹ đối chiếu sổ kế toán, báo cáo tài chính và hoạt động giao dịch của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán; (Điểm h).

  • Ngân hàng giám sát hỗ trợ hoạt động của công ty quản lý quỹ:

      Xuất phát từ nhu cầu tách bạch quyền quản lý của công ty quản lý quỹ với quyền nắm giữ tài sản của quỹ theo quy định của pháp luật, thì trên thực tế, công ty quản lý quỹ có quyền quản lý quỹ đầu tư, tuy nhiên, tàn sản của quỹ gồm tiền, chứng khoán và tài khoản khác lại do ngân hàng nắm giữ.

      Điều này là cần thiết nhằm bảo đảm cho giao dịch minh bạch và dễ kiểm soát hơn. Đồng thời cũng giúp công ty quản lý quỹ giảm bớt được chi phí quản lý quỹ vì nghiệp vụ này ngân hàng thương mại thường chuyên nghiệp hơn.

      Ngoài ra, dễ nhận thấy công ty quản lý quỹ cần sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật và tài chính trong hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Những nghiệp vụ như lưu ký chứng khoán, bản thân công ty quản lý quỹ không đủ khả năng thực hiện mà cần sự hỗ trợ từ những phương tiện cần thiết. Hơn nữa, yêu cầu quản lý tách bạch giữa các quỹ trong khi công ty quản lý quỹ quản lý quá nhiều quy đầu tư khiến việc quản lý, giám sát gặp nhiều khó khăn.

      Vì vậy, sự hỗ trợ từ phía ngân hàng giám sát là cần thiết để công ty quản lý quỹ hoạt động được hiệu quả.

      Căn cứ điều 98 Luật chứng khoán về các nghĩa vụ của ngân hàng giám sát thì nội dung thể hiện sự hỗ trợ của ngân hàng giám sát với công ty quản lý quỹ gồm:

      + Thực hiện lưu ký tài sản của quỹ đại chúng; quản lý tách biệt tài sản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán và các tài sản khác của ngân hàng giám sát;(điểm b).

      + Thực hiện hoạt động thu, chi, thanh toán và chuyển giao tiền, chứng khoán liên quan đến hoạt động của quỹ đại chúng. (điểm d).

  • Ngân hàng giám sát hỗ trợ về vốn cho công ty quản lý quỹ:

      Nội dung này thể hiện ở việc ngân hàng giám sát có thể cho công ty quản lý quỹ vay một số lượng vốn nhất định trong trường hợp cần thiết để trang trải chi phí của quỹ theo quy định của pháp luật. Lúc này, quan hệ giữa hai chủ thể này trở thành quan hệ cho vay.

      b/ Sự tác động trở lại của công ty quản lý quỹ đối với ngân hàng giám sát.

      Là mối quan hệ hai chiều, có sự tác động qua lại lẫn nhau nên ít nhiều, công ty quản lý quỹ cũng tác động lại, thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa công ty quản lý quỹ với ngân hàng giám sát.

      Điều này thể hiện ở chỗ, pháp luật cho phép công ty quản lý quỹ được quyền lựa chọn ngân hàng giám sát, trong số các ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện luật định. Như vậy, công ty quản lý quỹ đóng vai trò là khách hàng trong mối quan hệ này, là một phần trong cấu thành hoạt động và doanh thu của ngân hàng giám sát.

Mối quan hệ giữa ngân hàng giám sát với công ty chứng khoán

      Trong hoạt động đầu tư tài chính, mối quan hệ giữa hai chủ thể này dường như không đậm nét như hai mối quan hệ đã phân tích ở trên.

      Thể hiện ở việc các quy định liên quan đến nghiệp vụ kinh doanh của hai chủ thể ở điều 60 và điều 98 luật Chứng khoán ít nhắc tới vai trò của mỗi chủ thể với chủ thể còn lại. Song thực tế giữa hai chủ thể này vẫn tồn tại quan hệ khá mật thiết dưới hai khía cạnh, vừa hỗ trợ, vừa cạnh tranh lẫn nhau.

      a/ Mối quan hệ hỗ trợ.

      Vốn là điều kiện cần thiết trong hoạt động đầu tư tài chính, do đó, nhìn một cách tổng thể thì để thực hiện hoạt động đầu tư tài chính, công ty chứng khoán với tư cách là một doanh nghiệp có thể thực hiện việc vay vốn đầu tư từ ngân hàng giám sát dưới tư cách là ngân hàng thương mại.

      Lúc này quan hệ giữa công ty chứng khoán và với ngân hàng giám sát là quan hệ dân sự, được pháp luật dân sự điều chỉnh, nhưng nhìn dưới góc độ luật chứng khoán thì vốn vay được sửu dụng vào đầu tư chứng khoán, đồng thời với tư cách là chủ thể cho vay, ngân hàng giám sát có quyền kiểm soát hoạt động của công ty chứng khoán trong việc sử dụng vốn vay theo quy định của pháp luật và thoả thuận trong hợp đồng vay.

      Nhưng dù nhìn nhận dưới góc độ nào thì đây cũng là sự hỗ trợ của ngân hàng giám sát đối với công ty chứng khoán, giúp ích rất nhiều cho hoạt động đầu tư tài chính của công ty chứng khoán.

      b/ Sự cạnh tranh trong mối quan hệ.

      Nói công ty chứng khoán và ngân hàng giám sát bên cạnh hỗ trợ còn có sự cạnh tranh lẫn nhau là bởi, theo quy định của luật chứng khoán thì khi đủ điều kiện, công ty chứng khoán hay ngân hàng giám sát đều có quyền thực hiện cùng một hoạt động là bảo lãnh phát hành chứng khoán.

Phân tích mối quan hệ của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư với các ngân hàng thương mại trong hoạt động đầu tư

      Điều 6 luật Chứng khoán SĐ 2010 giải thích Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành phân phối chứng khoán ra công chúng.

      Tương tự như đã phân tích trong mối quan hệ giữa công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán với ngân hàng giám sát, khi hai chủ thể cùng thực hiện một hoạt động vì mục đích lợi nhuận thì hiển nhiên sẽ phát sinh việc cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động, tiếp cận khách hàng, làm tăng uy tín, danh tiếng để thu hút khách hàng, do vậy, công ty chứng khoán và ngân hàng giám sát cũng có sự cạnh tranh để giành lấy sự tin tưởng từ các tổ chức phát hành và thực hiện tốt việc bảo lãnh để nhận khoản thù lao tương xứng.

  • Ý kiến pháp lý nhằm bảo đảm an toàn trong hoạt động đầu tư tài chính.

      Đầu tư là việc bỏ một khoản vốn nhất định vào một đối tượng nào đó để tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động của đối tượng đó. Lợi nhuận là mục tiêu chính của việc đầu tư, song lợi nhuận lại được hình thành trong tương lai, không ai chắc chắn được về nó, do vậy hoạt động đầu tư phải đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức, hoạt động đầu tư của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ hay ngân hàng giám sát cũng đều tiềm ẩn những rủi ro nhất định.

      Do đó, cần xác định những nội dung cần thiết để giảm thiểu rủi ro có thể gặp phải trong hoạt động đầu tư, trước hết là đảm bảo an toàn về mặt pháp lý.

      Một là, các chủ thể trên cần nắm chắc các quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư tài chính, từ các quyền, nghĩa vụ của mình, các trường hợp có thể hoặc không thể đầu tư cho đến các quy định cụ thể về thực hiện giao dịch. Đây là cơ sở đầu tiên để các chủ thể đảm bảo an toàn cho mình về mặt pháp lý và là căn cứ để bảo vệ bản thân công ty, ngân hàng mình trong trường hợp có tranh chấp xảy ra.

      Hai là, Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát cần đảm bảo đủ các điều kiện về thành lập, hoạt động, các loại giấy phép theo quy định của luật chứng khoán trước khi thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán.

      Ba là, trước khi thực hiện hoạt động đầu tư tài chính, các chủ thể nêu trên cần tìm hiểu rõ về đối tượng đầu tư, đối tác đầu tư, cơ hội cũng như rủi ro có thể gặp phải…để quyết định xem có đầu tư hay không. Điều này là vô cùng cần thiết đối với hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư chứng khoán nói riêng. Việc tìm hiểu kỹ, nắm rõ các nội dung đầu tư trước khi đầu tư giúp các công ty có cơ sở đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn, quyết định đầu tư là nguồn khởi đầu, quyết định các rủi ro có thể gặp phải về sau.

      Việc tìm hiểu, xem xét các nội dung xoay quanh hoạt động đầu tư cần được xem xét tỉ mỉ, chính xác, tránh nóng vội, ham cái lợi trước mắt mà có khả năng phải gánh chịu hậu quả về sau.

      Bốn là, nghiêm túc tuân thủ các quy định về hạn chế đối với từng chủ thể tương ứng theo quy định của pháp luật chứng khoán hiện hành.

      Các hạn chế của pháp luật được quy định là sự dự liệu của pháp luật nhằm bảo đảm an toàn trong hoạt động của công ty, đó có thể là những việc không được thực hiện hoặc chỉ thực hiện trong một số trường hợp luật định, các hạn chế cụ thể hiện nay được quy định tại điều 73 và điều 99 Luật Chứng khoán 2006, SĐ, BS 2010.

      Trong đó, hạn chế đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ gồm 5 trường hợp liên quan đến:

  • Liên quan đến việc nhận định hoặc bảo đảm với khách hàng về mức thu nhập hoặc lợi nhuận đạt được trên khoản đầu tư của mình.
  • Liên quan đến việc tiết lộ thông tin của khách hàng.
  • Liên quan đến việc gây hiểu nhầm về giá chứng khoán
  • Vấn đề cho khách hàng vay tiền để mua chứng khoán.
  • Vấn đề chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của cổ đông, thành viên sáng lập trong công ty phải bảo đảm thời hạn luật định.

      Đối với ngân hàng giám sát, pháp luật quy định hai trường hợp hạn chế cụ thể tại điều 99 luật Chứng khoán:

  • Một là, Ngân hàng giám sát, thành viên Hội đồng quản trị, người điều hành và nhân viên trực tiếp của ngân hàng giám sát làm nhiệm vụ giám sát hoạt động quỹ đại chúng và bảo quản tài sản quỹ của ngân hàng giám sát không được là người có liên quan hoặc có quan hệ sở hữu, vay hoặc cho vay với công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán và ngược lại.
  •  Hai là, Ngân hàng giám sát, thành viên Hội đồng quản trị, người điều hành và nhân viên của ngân hàng giám sát trực tiếp làm nhiệm vụ giám sát và bảo quản tài sản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán không được là đối tác mua, bán trong giao dịch mua, bán tài sản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán.

      Năm  là, pháp luật cần quy định hạn mức đầu tư tài chính đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư và ngân hàng giám sát. Lý do là bởi cả ba chủ thể này đều trực tiếp tham gia đầu tư tài chính, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Trường hợp đầu tư theo sự uỷ thác của các nhà đầu tư thì quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về nhà đầu tư, công ty quản lý quỹ chỉ hưởng thù lao từ việc đầu tư nên có thể không giới hạn hạn mức đầu tư.

      Tuy nhiên, đối với công ty chứng khoán và ngân hàng giám sát, hai chủ thể này có quyền tự mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình. Song, các chủ thể này ngoài việc đầu tư tài chính còn có các nghiệp vụ chính khác, các nghiệp vụ này liên quan trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của thị trường chứng khoán, thậm chí là sự phát triển chung của nền kinh tế. Do vậy, để tránh trường hợp các chủ thể này đầu tư tài chính quá lớn, khi gặp phải rủi ro sẽ gặp khó khăn, thậm chí phá sản, gây ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán hay nền kinh tế hoặc vì sa đà vào đầu tư tài chính mà ảnh hưởng đến nghiệp vụ khác thì pháp luật nên giới hạn hạn mức đầu tư tài chính ở một mức phù hợp. Vừa không ảnh hưởng đến các nghiệp vụ còn lại, vừa đảm bảo an toàn cho chính các chủ thể này về mặt kinh tế.

      Từ những phân tích ở trên, có thể thấy, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát là những chủ thể hiện hữu, có vai trò quan trên thị trường chứng khoán. Thông qua các nghiệp vụ kinh doanh cũng như vai trò của từng chủ thể trên thị trường, dễ nhận thấy 3 chủ thể này có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau, vừa hỗ trợ, vừa thúc đẩy nhau phát triển. Đồng thời, khi tham gia hoạt động đầu tư tài chính, các chủ thể này đều phải đối mặt với những rủi ro đầu tư, do vậy, cần lưu ý một số vấn đề trước khi đầu tư  để hạn chế tối đa rủi ro, nang cao lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính.


        Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề: Phân tích mối quan hệ của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư với các ngân hàng thương mại. Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

      Trân trọng./.


 

phone-call

GỌI HỎI ĐÁP MIỄN PHÍ

Scroll to Top