Đánh giá pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam và tìm hiểu pháp luật về chào bán chứng khoán hiện hành đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễn ở Việt Nam đến mức độ nào

Đánh giá pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 28/7/2000 là sự kiện quan trọng trong quá trình đổi mới nền kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Thị trường chứng khoán là công cụ hiệu quả để huy động và phân bổ vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế. Thông qua hoạt động chào bán chứng khoán các doanh nghiệp sẽ thu hút, tạo lập nguồn vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Được đánh giá là một hình thức huy động vốn linh hoạt và hiệu quả cao nên việc tìm hiểu hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán ở nước ta có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Do đó em xin chọn đề bài số 1: “Đánh giá pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam và tìm hiểu pháp luật về chào bán chứng khoán hiện hành đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễn ở Việt Nam đến mức độ nào” để làm bài tập học kì của mình.


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Luật chứng khoán năm 2006
  • Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán số 62/2010/QH12.
  • Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật chứng khoán, CAND, Hà Nội, 2008
  • Phạm Thị Giang Thu – Nguyễn Minh Hằng, “Một số vấn đề pháp lí về chào bán cổ phiếu của công ti cổ phần”, Tạp chí nhà nước pháp luật, số 7/2009, tr. 34 – 37.
  • Nghị định số 58/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật của luật chứng khoán và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật chứng khoán.
  • Phạm Thị Giang Thu, Một số vấn đề về pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2004.

Khái quát về chứng khoán

Để tìm hiểu pháp luật về chào bán chứng khoán trước hết ta cần biết chứng khoán là gì theo quy định của pháp luật hiện hành.

Định nghĩa

Theo Luật chứng khoán năm 2006 sửa đổi năm 2010 (sau đây gọi tắt là: Luật chứng khoán năm 2006) tại Khoản 1 Điều 6:“Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:

a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;

b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán,hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán;

c) Hợp đồng góp vốn đầu tư;

d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.”

Đặc điểm

Chứng khoán là hàng hóa đặc biệt chỉ xuất hiện và tồn tại trên thị trường chứng khoán nên nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với hàng hóa thông thường:

  • Thứ nhất, chứng khoán có tính sinh lời: thể hiện ở lợi tức và chênh lệch giá chứng khoán.
  • Thứ hai, chứng khoán có tính thanh khoản: đây là thuộc tính quan trọng thể hiện ở khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng của chứng khoán.
  • Thứ ba, chứng khoán có tính rủi ro: ngoài những thuộc tính hấp dẫn như khả năng sinh lời, tính thanh khoản, chứng khoán ẩn chứa nhiều rủi ro. Chứng khoán như một con dao hai lưỡi, có thể đem lại khoản lợi nhuận lớn nhưng cũng có thể gây thiệt hại đáng kể cho nhà đầu tư.

Pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam

Chào bán chứng khoán và vai trò chào bán chứng khoán

Chào bán chứng khoán

Chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán. Chủ thể chào bán chứng khoán rất đa dạng, có thể là chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp.

Chính phủ thường chào bán chứng khoán dưới dạng trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc để huy động vốn và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ khi nguồn thu ngân sách nhà nước hoặc ngân sách địa phương không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu.

Các doanh nghiệp có thể chào bán chứng khoán dưới dạng cổ phiếu hoặc trái phiếu tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, để huy động vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Vai trò của hoạt động chào bán chứng khoán

Chào bán chứng khoán có vai trò quan trọng không chỉ đối với chủ thể chào bán mà còn với cả nền kinh tế nói chung.

Việc chào bán chứng khoán giúp các chủ thể chào bán có thể huy động được một nguồn vốn lớn, trợ giúp đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của các chủ thể chào bán chứng khoán.

Với Chính phủ hay chính quyền địa phương, việc chào bán chứng khoán giúp ngân sách của Chính phủ và chính quyền địa phương không chỉ phụ thuộc vào nguồn thu ngân sách, có thể chủ động sáng tạo trong các chính sách xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng.

Với các doanh nghiệp, chào bán chứng khoán đóng một vai trò hết sức quan trọng, quyết định quy mô phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó mang lại cho các doanh nghiệp nguồn vốn rất lớn để hiện thực hóa các dự án trên giấy, góp phần lớn trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế nước nhà.

Chào bán chứng khoán ở Việt Nam

Các phương thức chào bán chứng khoán

Phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng

Chủ thể chào bán chứng khoán ra công chúng

Chủ thể chào bán chứng khoán ra công chúng là những tổ chức tiến hành huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách chào bán ra công chúng các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu đối với phần vốn góp của các tổ chức phát hành (cổ phiếu), hoặc xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với phần vốn nợ của tổ chức phát hành (trái phiếu) hoặc xác nhận các quyền lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán (quyền ưu tiên mua trước, trái phiếu chuyển đổi,…).

Chủ thể phát hành chứng khoán gồm:

Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, trường hợp này tùy theo yêu cầu nắm giữ vốn của nhà nước tại doanh nghiệp, phần vốn còn lại sẽ được doanh nghiệp chào bán rộng rãi ra công chúng thông qua phát hành cổ phiếu. Hoạt động chào bán cổ phiếu của doanh nghiệp cổ phần hóa nói trên phải chịu sự điều chỉnh của những quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng.

Chủ thể chào bán chứng khoán ra công chúng còn là công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển đổi thành công ty cổ phần thông qua việc chào bán cổ phiểu ra công chúng để kêu gọi nguồn vốn rộng rãi từ công chúng – các nhà đầu. Vì vậy khi chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động nguồn vốn các công ty này phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng.

Chủ thể phát hành chứng khoán ra công chúng là những công ty cổ phần phi đại chúng, nay có nhu cầu tăng vốn điều lệ bằng cách chào bán cổ phiếu rộng rãi ra công chúng; cũng có thể là các công ty cổ phần đại chúng kêu gọi thêm nguồn vốn bằng cách chào bán cổ phiếu bổ sung hoặc chào bán các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật cũng có thể là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn được phép chào bán chứng khoán ra công chúng để huy động nguồn vốn dài hạn, tạm thời nhàn rỗi trong công chúng đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của họ.

Ngoài ra, chủ thể phát hành chứng khoán ra công chúng còn các quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng và các công ty đầu tư chứng khoán. Đây là nhóm chủ thể đặc thù chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư đại chúng hoặc cổ phiếu được chủ yếu đàu tư và chứng khoán, đem lại lợi nhuận đầu tư cho các quỹ đầu tư chứng chỉ của quỹ hoặc cổ đông của công ty đầu tư chứng khoán.

Phương thức chào bán chứng khoán là phương pháp và hình thức thực hiện việc chào bán chứng khoán.

  • Phương thức chào bán thông qua đại lý

Theo phương thức này tính chất trung gian bên nhận đại lý sẽ ký kết hợp đồng để bán chứng khoán của họ trên thị trường sơ cấp. Bên đại lý có thể là ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm,… Các đơn vị này sẽ được hưởng hoa hồng theo tỷ lệ trực tiếp trên số lượng chứng khoán bán ra.

  • Phương thức bảo lãnh phát hành

Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức pháp hành thực hiện các thủ tục trước và sau khi chào bán chứng khoán như định giá chứng khoán, chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoàn trong giai đoạn đầu và ngay sau khi phát hành thông qua hợp đồng bảo lãnh giữa tổ chức bảo lãnh và doanh nghiệp phát hành.

Đánh giá pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam
Đánh giá pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam
Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chứng

Sau khi thực hiện việc chào bán chứng khoán ra công chúng, chứng khoán của chủ thể phát hành sẽ được sở hữu rộng rãi bới các nhà đầu tư. Kết quả kinh doanh sẽ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn lợi của nhà đầu tư. Để bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư và củng cố lòng tin của họ vào thị trường chính khoán, pháp luật Việt Nam cụ thể là Luật chứng khoán năm 2006 đã đề ra những điều kiện mà các tổ chức phát hành phải thỏa mãn để được chào bán chứng khoán ra công chúng.

Hiện nay, Luật chứng khoán năm 2006 đưa ra các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng để phân biệt giữa chào bán cổ phiếu, chào bán trái phiếu và chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng; tuy nhiên không có sự phân biệt giữa điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu và điều kiện chào bán thêm cổ phiếu mà tổ chức phát hành phải thỏa mãn như trước đây.

Những quy định của Luật chứng khoán về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng còn lưu ý tới địa vị pháp lý của chủ thể phát hành cũng như nơi diễn ra việc chào bán chứng khoán vì vậy điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng được xây dựng có phân biệt giữa công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần và doanh nghiệp thành lập mới, thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao; giữa chào bán chứng khoán trong nước và chào bán chứng khoán ra nước ngoài.

Ngoài ra theo Nghị định 84/2010/NĐ-CP mới ban hành thì tổ chức phát hành phải mở một tài khoản riêng biệt tại một ngân hàng thương mại để phong tỏa số tiền thu được từ đợt chào bán. Trường hợp tổ chức phát hành là ngân hàng thương mại thì phải lựa chọn một ngân hàng thương mại khác để phong tỏa số tiền thu được từ đợt chào bán.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc đợi chào bán, tổ chức phát hành phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về kết quả chào bán kèm theo xác nhận của ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản phong tỏa về số tiền thu được được từ đợt chào bán. Sau khi gửi báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tổ chức phát hành được giải tỏa số tiền thu được từ đợt chào bán. Sau khi gửi báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tổ chức phát hành được giải tỏa số tiền thu được từ đợt chào bán.

Trình tự, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng

Trình tự thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng gồm ba bước cơ bản là: đăng kí chào bán chứng khoán ra công chúng, công bố thông tin trước khi chào bán chứng khoán và cuối cùng là phân phối chứng khoán ra công chúng.

Chào bán chứng khoán riêng lẻ

Chủ thể phát hành chứng khoán riêng lẻ

Chủ thể phát hành chứng khoán riêng lẻ gồm bộ phận các doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, các công ty chứng khoán phi đại chúng và công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn đầu tư trong nước hoặc có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 01/2010/NĐ – CP thì chủ thể phát hành cổ phần riêng lẻ bao gồm: công ty cổ phần, các doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần, ngoại trừ các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần.

Điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ

Đối với công ty cổ phần mới thành lập: trước hết công ty đó phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau khi đã đăng ký kinh doanh. Sau khi đăng kí kinh doanh hợp lệ, công ty cổ phần có quyền chào bán số lượng cổ phiếu được quyền chào bán đã được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.

Đối với doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần: phải đáp ứng các điều kiện cổ phần hóa và các điều kiện minh bạch thông tin trước khi chào bán. Doanh nghiệp muốn cổ phần hóa trước hết phải là doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hai là chỉ được tiến hành cổ phần hóa nếu còn vốn Nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp.

Trường hợp doanh nghiệp muốn cổ phần hóa là đơn vị hạch toán phụ thuộc của các doanh nghiệp thuộc đối tượng cổ phần hóa còn phải thỏa mãn thêm 03 điều kiện: phải có điều kiện hạch toán độc lập, việc cổ phần hóa đơn vị hạch toán độc lập này không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp và đã xác định trong phương án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Điều kiện minh bạch thông tin trước khi chào bán cổ phiếu riêng lẻ đòi hỏi doanh nghiệp chào bán phải công bố thông tin về bản thân doanh nghiệp cổ phần hóa. Những thông tin này phải được công bố trước khi chào bán 20 ngày để nhà đầu tư có thời gian tìm hiểu cần thiết về loại cổ phiếu sẽ chào bán để có quyết định đầu tư đúng đắn.

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần thông qua chào bán cổ phiếu riêng lẻ thì phải đáp ứng ba điều kiện cần thiết để được chuyển đổi thành công ty cổ phần:

  • Phải huy động đủ vốn pháp định theo quy định tại Giấy phép đầu tư trước khi tiến hành chuyển đổi, phải có thời gian hoạt động chính thức tối thiểu 03 năm và trong năm thứ 3 liền kề năm chuyển đổi hình thức hoạt động doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, phải có hồ sơ đề nghị chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần; sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp nhận, doanh nghiệp phải công bố rộng rãi về việc chuyển đổi hình thức doanh nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đảm bảo nhà đầu tư nắm được những thông tin cần thiết.
Điều kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ

Trước tiên: doanh nghiệp đó phải được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty Nhà nước trong thời gian chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần hoặc phải là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Kể từ khi chính thức bước vào hoạt động cho tới khi thực hiện việc chào bán trái phiếu riêng lẻ doanh nghiệp phải có thời gian hoạt động ít nhất là một năm; doanh nghiệp phải có báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán; doanh nghiệp phải đáp ứng được yêu cầu của pháp luật về năng lực kinh doanh, thể hiện ở số lãi của hoạt động sản xuất, kinh doanh năm liền kề trước năm phát hành; doanh nghiệp phải có phương án phát hành trái phiếu đã được tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền của doanh nghiệp thông qua.

Tùy thuộc vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp phát hành trái phiếu và loại trái phiếu sẽ được chào bán mà cơ quan có thẩm quyền thông qua phương án phát hành trái phiếu khác nhau. Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cơ quan này là hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên nếu chào bán trái phiếu thường hoặc đại hội cổ đông của công ty cổ phần trong trường hợp chào bán trái phiếu chuyển đổi. Đổi với doanh nghiệp Nhà nước, phương án chào bán trái phiếu phải được Bộ Tài chính chấp thuận.

 Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ

Để chào bán cổ phần riêng lẻ, doanh nghiệp phải có quyết định thông qua phương án chào bán cổ phần riêng lẻ và phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị theo Điều lệ công ty hoặc ủy quyền của Đại hội đồng cổ đông cho Hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần); hoặc Hội đồng thanh viên, chủ sở hữu công ty (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển thành công ty cổ phần);

Hoặc chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần); phương án chào bán phải xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư được chào bán dưới 100 nhà đầu tư và hạn chế chuyển nhượng cổ phần tối thiểu trong vòng 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán; trường hợp chào bán cho các đối tác chiến lược, tổ chức chào bán phải xây dựng tiêu chuẩn chỉ xác định, lựa chọn đối tác chiến lược.

Đối tác chiến lược là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp; chuyển giao công nghệ mới, cung cấp nguyên vật liệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm; gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp. Trường hợp tổ chức chào bán là doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan.

Trình tự, thủ tục chào bán chứng khoán riêng lẻ

Thứ nhất, nếu chứng khoán chào bán là cổ phần thì phải làm thủ tục đăng kí với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hồ sơ đăng kí được quy định tại Điều 9 Nghị định 01/2010/NĐ-CP.

Thứ hai, công bố thông tin trước khi chào bán chứng khoán riêng lẻ.

Thứ ba, phân phối chứng khoán.

Đánh giá pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam

Đánh giá về pháp luật chào bán chứng khoán riêng lẻ

Ưu điểm

Huy động vốn một cách linh hoạt mà ít phải thông qua các tổ chức trung gian tài chính khác.

Dễ thực hiện, các quy định về điều kiện thủ tục đơn gian.

Nguồn vốn huy động từ chào bán riêng lẻ là nguồn vốn có khả năng sử dụng lâu dài, các doanh nghiệp có thể chủ động trong việc hoàn trả.

Là nguồn huy động vốn quan trọng, đặc biệt với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Khi chào bán cổ phần có thể làm thay đổi vốn của doanh nghiệp từ đó nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp.

Có thể thực hiện với một số mục đích khác nhau như duy trì mối quan hệ kinh doanh hoặc chào bán cho cán bộ công nhân viên,…

Chi phí của phương thức chào bán chứng khoán riêng lẻ thấp hơn.

Hạn chế

Hạn chế về số lượng nhà đầu tư nên hạn chế về số vốn huy động.

Đánh giá pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam

Về giới hạn chuyển nhượng (tối thiểu 01 năm) có thể gây ra cho doanh nghiệp khó khăn trong thu hút vốn đầu tư mở rộng sản xất kinh doanh như làm mất sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán riêng lẻ.

Việc thị trường chứng khoán diễn biến thay đổi trong 01 năm là rất khó đoán định nên việc yêu cầu năm giữ cổ phiếu 01 năm làm tính thanh khoản của chứng khoán không cao nên doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động vốn.

Về quy định giới hạn thời gian phát hành cách nhau ít nhất 06 tháng khiến doanh nghiệp khó lòng huy động vốn liên tục để đáp ứng nhu cầu đầu tư và chớp thời cơ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đánh giá pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng

 Ưu điểm

Phát hành chứng khoán ra công chúng giúp công ty có thể thu hút và duy trì đội ngũ nhân viên năng lực cao vì khi chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty bao giờ cũng dành một tỷ lệ chứng khoán nhất định để bán cho nhân viên trong công ty. Việc mua cổ phiếu sẽ khiến nhân viên trở thành một cổ đông của công ty, việc nhận được lợi tức và tính chênh lệch giá của cổ phiểu phụ thuộc vào thành quả hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó thúc đẩy nhân viên trong công ty lao động hăng say đạt hiệu quả cao.

Phát hành chứng khoán ra công chúng giúp công ty có cơ hội để xây dựng hệ thống quản lý chuyên nghiệp cũng như xây dựng được một chiến lược phát triển rõ ràng.

Công ty cũng dễ dàng hơn trong việc tìm người thay thế, nhờ đó mà tạo ra được tính liên tục trong quản lý. Bên cạnh đó, sự hiện diện của các ủy viên quản trị không trực tiếp tham gia điều hành công ty cũng giúp tăng cường kiểm tra và cân đối trong quản lý và điều hành công ty.

Phát hành chứng khoán ra công chúng làm tăng chất lượng và độ chính xác của các báo cáo của công ty bởi vì các báo cáo đó phải được lập theo các tiêu chuẩn chung do cơ quan quản lý quy định. Chính điều này làm cho việc đánh giá và so sánh kết quả hoạt động của công ty được thực hiện dễ dàng và chính xác hơn.

 Nhược điểm

Phát hành cổ phiếu ra công chúng có khả năng làm mất quyền kiểm soát công ty nếu có các hoạt động thông tính công ty của các cô đông nắm giữ nhiều cổ phiếu. Bên cạnh đó, cơ cấu về cổ đông luôn biến động theo các phiên giao dịch cổ phiếu hàng ngày.

Chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng cao, thường chiếm từ 8 – 10% khoản vốn huy động bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán, chi phí niêm yết,…

Ngoài ra, hàng năm công ty cũng phải chịu thêm các khoản chi phí phụ thuộc như chi phí kiểm toán các báo cáo tài chính, chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ.

Công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải tuân thủ một chế độ công bố thông tin rộng rãi, nghiệm ngặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với các công ty khác. Hơn nữa, việc công bố các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí cạnh tranh, phương thức hoạt động, các hợp đồng nguyên liệu, cũng như nguy cơ bị rò rỉ thông tin ra ngoài có thể đưa công ty vào vị trí cạnh tranh bất lợi.

Đội ngũ cán bộ quản lý công ty phải chịu trách nhiệm lớn hơn trước công chúng. Ngoài ra, do quy định của pháp luật, việc chuyển nhượng vốn cổ phần của họ thường bị hạn chế.

Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam về chào bán chứng khoán

Tính từ năm 2000 đến thời điểm hiện tại, giá trị vốn hóa toàn thị trường đạt hơn 40% GDP (khoảng 700.000 tỉ đồng). Từ 07 công ty chứng khoán năm 2000 và 01 công ty quản lý quỹ, đến thời điểm hiện tại trên cả hai sàn có tổng cộng 557 công ty niêm yết, 105 công ty chứng khoán, 45 công ty quản lý quỹ. Toàn thị trường có 926 nghìn tài khoản của các nhà đầu tư, tổ chức và cá nhân, trong đó riêng nhà đầu tư nước ngoài có hơn 10.000 tài khoản với danh mục đầu tư nắm giữ đạt gần 7 tỉ USD.

Tính từ năm 2000 đến hết thành 6/2010, thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động tới 42% tổng giá trị các đợt phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc được Chính phủ giao bảo lãnh phát hành. Trong 05 năm đầu giá trị giao dịch bình quân chỉ 55 tỉ đồng/phiên, trong 05 năm tiếp theo đạt 1.300 tỉ đồng/phiên, đặc biệt thời gian từ đầu năm 2009 giá trị giao dịch bình quân đã đạt trên 3.000 tỉ đồng/phiên.

Từ hơn 450 doanh nghiệp trong năm 2009, số lượng này đã tăng nhanh lên khoảng 600 doanh nghiệp niêm yết trên hai sở giao dịch Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội năm 2010, tăng hơn 30%. Báo cáo cuối năm của công ty chứng khoán Âu Việt cũng cho thấy, giá trị huy động vốn qua thị trường chứng khoán trong năm 2010 đã tăng hơn 160% so với năm 2009. Mặc dù chỉ số chứng khoán không tăng mạnh và dòng tiền cũng không thật ấn tượng nhưng xét ở mặt số lượng doanh nghiệp niêm yết và quy mô huy động vốn qua kênh chứng khoán thì thị trường chứng khoán đạt được thành quả không nhỏ.

Tuy nhiên, tính thanh khoản của cổ phiếu các doanh nghiệp còn thấp:

  • Thứ nhất, tính thành khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành (công ty có cổ phiếu niêm yết). Nếu tổ chức phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếu của công ty sẽ thu hút nhà đầu tư và cổ phiếu thực sự dễ mua bán trên thị trường. Ngược lại nếu công ty kinh doanh kém hiệu quả không trả cổ tức hoặc cổ tức thấp, cổ phiếu của công ty sẽ giảm giá và khó lưu thông trên thị trường, khả năng chuyển hóa thành tiền mặt là thấp.
  • Thứ hai, tính thoanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào mối quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán: Thị trường cổ phiếu cũng như các loại thị trường khác đều chịu sự cho phối của quy luật cung cầu. Giá cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào chất lượng công ty mà còn phụ thuộc rất lơn vào nhu cầu của nhà đầu tư. Tuy một loại cổ phiếu rất tốt nhưng thị trường đang bão hòa nguồn cung (nhiều hàng hóa) thì cổ phiếu đó cũng khó tăng giá.
  • Thứ ba, các nguyên nhân khác như lạm phát, khủng hoảng kinh tế, những bất ổn về chính trị trong thời gian gần đây cũng làm giảm tính thanh khoản của các nhà đầu tư. Ở Việt Nam 02 năm gần đây trước sự tăng kỉ lục của chỉ số tiêu dùng CPI, sự tăng giá của các mặt hàng thiết yếu như điện, xăng dầu làm cho niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường giảm mạnh. Các sàn ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh giảm điểm nhiều phiên liên tục gây tâm lí chán nản cho nhà đầu tư. Nhất là trong khi thị trường ở nhiều nước khá đã bắt đầu phục hồi.

Hơn nữa, khả năng huy động vốn của cổ phiếu các doanh nghiệp nước ta còn thấp:

  • Thứ nhất, trên thị trường sơ cấp, việc nước ta chưa có những doanh nghiệp có khả năng và tạo đột biến cùng những ý tưởng đột phá để phát triển công ty từ đó thu hút các nhà đầu tư. Thêm vào đó, các tổ chức phát hành chưa đủ kinh nghiệm, kiến thức chuyên sâu để có được một đợt phát hành hoàn hảo khi ở nước ta các ngân thương mại vẫn đang chịu trách nhiệm về việc bảo lãnh thay vì các ngân hàng đầu tư. Một điều nữa là các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm của chúng ta là ít và thiếu tiềm lực để có thể cung cấp vốn cho các công ty phát hành trên thị trường sơ cấp. Điều này làm cho việc huy động vốn trên thị trường sơ cấp là rất khó khăn và việc huy động vốn thấp là điều tất yếu.
  • Thứ hai, số lượng nguồn vốn huy động được trên thị trường sơ cấp đã thấp nhưng chất lượng sử dụng các nguồn vốn này cón kém làm cho việc huy động vốn thấp cả về lượng và chất. Cụ thể, các doanh nghiệp sau khi thu được khoản tiền từ thị trường chứng khoán lẽ ra phải dùng vốn đó để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển doanh nghiệp. Nhưng không chỉ một phần số vốn đó được đầu tư trở lại, phần còn lại chuyển hướng kinh doanh mà những doanh nghiệp lớn thường nhắm tới ngân hàng.

Hiện nay, chào bán chứng khoán đã và đang chứng tỏ là một biện pháp mang lại hiệu quả cao trong việc huy động nguồn vốn phục vụ phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên đây cũng là một hoạt động khá phức tạp, tác động đến nhiều chủ thể và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và ổn định của nền kinh tế. Pháp luật Việt Nam đã có sự quan tâm tương xứng điều chỉnh một cách khá hoàn thiện hoạt động chào bán chứng khoán.

Sự ra đời của Luật chứng khoán 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010; Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2014; Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị định số 58/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật của luật chứng khoán và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật chứng khoán,… khung pháp lý cho hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ đã hình thành và bước đầu phát huy hiệu quả.


Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề: Đánh giá pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam. Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới Tổng đài tư vấn luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.

phone-call

GỌI HỎI ĐÁP MIỄN PHÍ

Scroll to Top