Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của Tâm lý học hành vi. Liên hệ với thực tiễn phòng ngừa tội phạm ở nước ta

Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của Tâm lý học hành vi

Trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm của mỗi quốc gia, công tác phòng ngừa tội phạm luôn được ưu tiên hàng đầu bởi dẫu có phát hiện và xử lý tội phạm kịp thời thì hành vi đó cũng đã xảy ra và ít nhiều đã để lại những hậu quả đáng tiếc cho xã hội. Do đó, việc đấu tranh với tội phạm đạt hiệu quả tốt nhất khi mà ngăn ngừa, không cho tội phạm xảy ra. Để làm được điều này, đã có rất nhiều học thuyết lý giải nguyên nhân của hành vi phạm tội để từ đó đưa ra những giải pháp phòng ngừa phù hợp.Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề: “Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của Tâm lý học hành vi. Liên hệ với thực tiễn phòng ngừa tội phạm ở nước ta”


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Tập bài giảng Tâm lý học tội phạm, Trường Đại học Luật Hà Nội.
  • Đại học quốc gia Hà Nội, Các trường phái lý thuyết trong tâm lý học xã hội. xuât bản năm 2005.
  • Giáo trình tâm lý học tư pháp, trường Đại học Luật Hà Nội, nxb.CAND, Hà Nội – 2016.

Một số vấn đề lý luận chung về phòng ngừa tội phạm

Khái niệm phòng ngừa tội phạm

Phòng ngừa tội phạm là việc các cơ quan của Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân bằng nhiều biện pháp nhằm khắc phục những nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội nhằm ngăn chặn, hạn chế và làm giảm từng bước, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

Như vậy, có thể hiểu phòng ngừa tội phạm là hoạt động của cơ quan, tổ chức cá nhân thực hiện các biện pháp khác nhau nhằm mục đích:

  • Khắc phục những quyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội.
  • Ngăn chặn, hạn chế tình trạng phạm tội.
  • Làm giảm từng bước, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

Khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tâm lý học

Phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tâm lý học là hệ thống các biện pháp, các quy định, các hành vi của cá nhân, tổ chức mà:

Thứ nhất, hình thành ở con người những phẩm chất tâm lí tích cực, những thói quen hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội;

Thứ hai, ngăn chặn sự hình thành, loại bỏ, hạn chế những phẩm tâm lí tiêu cực, những thói quen hành vi không phù hợp với chuẩn mực xã hội, giải tỏa khuynh hướng gây hấn, xâm kích;

Thứ ba, đảm bảo hạn chế tối đa cho cá nhân không phạm tội trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của tâm lý học hành vi

Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của Tâm lý học hành vi

Nội dung của Tâm lý học hành vi

Trường phái tâm lý học hành vi chính thức trở thành một trường phái lý thuyết độc lập trong tâm lý học từ đầu thế kỷ XX, đánh dấu bằng sự ra đời của học thuyết điều kiện hoá kinh điển của Ivan Pavlov; điều kiện hoá thao tác của E.Thorndike và việc phát triển hai học thuyết này thành thuyết hành vi cổ điển (John B. Watson) và thuyết hành vi mới (B.F. Skinner, A.Bardura).

Ivan Pavlov (1849 – 1936) qua thực nghiệm với con chó đói đã chứng minh học thuyết điều kiện hoá kinh điển. Điều kiện hoá kinh điển là một hình thức của học tập, trong đó một kích thích trung gian (kích thích không tạo ra phản ứng) đi cặp đôi với một kích thích có điều kiện (kích thích có tạo ra phản ứng) liên tục. Theo Pavlov, các mối liên kết tạm thời được hình thành bởi các phản xạ có điều kiện chính là các liên tưởng – cơ sở của hoạt động tâm lý .

Người ứng dụng thành công những nghiên cứu của Pavlov trong tâm lý học là J.B.Watson (1878-1958), cha đẻ của Tâm lý học hành vi cổ điển. Watson đã phát triển học thuyết phản xạ có điều kiện vào nghiên cứu hành vi và sáng lập ra trường phái hành vi trong tâm lý học (1913). Ông nhấn mạnh đến những hành vi được nghiên cứu một cách khách quan (những kích thích, đáp ứng, củng cố được quan sát một cách trực tiếp), bác bỏ, coi thường sự hiện hữu và vai trò của các sự kiện tinh thần như ý thức, suy nghĩ, tưởng tưởng … Tuy nhiên, quan điểm cực đoan này của Watson bị nhiều nhà tâm lý học phản đối. Họ phát triển quan điểm coi nội dung cơ bản của tâm lý học là hành vi bên ngoài nhưng không phủ nhận tầm quan trọng của các sự kiện tinh thần trong phân tích hành vi, tạo nên trường phái hành vi mới.

Edward L. Thorndike (1874 – 1949) – nhà tâm lý học Mỹ – độc lập nghiên cứu và cùng đưa ra những phát minh tương tự với phản xạ có điều kiện của Pavlov – nguyên tắc luyện tập nổi tiếng “làm thử và sửa sai”. Thorndike cho rằng nền tảng của việc học tập là sự hình thành mối liên hệ giữa đầu vào cảm giác và sự thúc đẩy hành động. Theo ông, hành vi được kiểm soát bởi hậu quả của nó.

  • F. Skinner (1904-1990), đã hệ thống hoá học thuyết của Thorndike thành thuyết điều kiện hoá thao tác. Điều kiện hoá thao tác liên quan đến sự tăng hoặc giảm hành vi nào đó bằng cách thay đổi một cách có hệ thống hiệu quả của hành vi đó.
  • Bandura đã phát triển lý thuyết học tập xã hội hiện đại bao hàm cả nguyên tắc điều kiện hoá kinh điển, điều kiện hoá thao tác và nguyên tắc học qua quan sát, nhấn mạnh vai trò của nhận thức (tư duy, tưởng tượng, niềm tin, mong muốn,…) trong điều chỉnh hành vi. Lý thuyết của Bandura đã mang lại cho trường phái hành vi một diện mạo mới, khắc phục những khiếm khuyết của chủ nghĩa hành vi cổ điển của Watson – chỉ xem xét những hành vi biểu hiện ra bên ngoài, bỏ qua những gì diễn ra ở bên trong.

Công thức cơ bản của trường phái hành vi là kích thích – phản ứng (S – R). Do đó, đối tượng của tâm lý học xã hội theo trường phái này là hành vi của con người.

Theo mô hình hành vi, mỗi người được xác định bởi một tập hợp những hành vi của người đó. Các nhà Tâm lý học hành vi quan niệm rằng “bất kỳ cái gì một người làm là hành vi, còn cái gì một người có là nét tính cách”.

Hành vi có hai phạm trù: hành vi biểu hiện ra bên ngoài và hành vi diễn ra bên trong. Hành vi bộc lộ ra bên ngoài là những gì chúng ta làm người khác có thể quan sát trực tiếp được (Ví dụ: ăn, chơi, nói, cười, viết,…). Hành vi diễn ra bên trong đầu là những gì chúng ta làm mà người khác không thể quan sát trực tiếp được (Ví dụ: suy nghĩ tưởng tượng, nghi nhớ, suy đoán, tình cảm,…) nhưng có thể nhận biết thông qua suy luận.

Các nhà hành vi học đã sử dụng mô hình ABC (viết tắt các từ Anticedents – tác nhân kích thích; Behaviors – hành vi; Consequesces – Hậu quả, kết quả) để mô tả quá trình liên tiếp, hiện thời của những tác nhân kích thích thúc đẩy hành vi xã hội và hiệu quả sau khi hành vi được trình diễn:

Mô hình ABC về hành vi người phạm tội (A). Tác nhân kích thích ban đầu là những sự kiện xảy ra hoặc có mặt trước khi hành vi phạm tội B diễn ra, chúng tạo ra những điều kiện cần và đủ cho hành vi phạm tội xảy ra. (C). Hậu quả là những sự kiện xảy ra sau và như là kết quả của một việc thực hiện hành vi.phạm tội. Hậu quả có thể xảy ra ngay hoặc một thời gian sau mới xảy ra và ảnh hưởng đến khả năng suất hiện lại của hành vi này trong tương lai. Mặc dù có rất nhiều sự kiện xảy ra trước và theo sau mọi hành vi nhưng chỉ có một số rất ít có ảnh hưởng đáng kể trực tiếp như là những nhân tố đang duy trì sự có mặt của hành vi. Hơn nữa tác nhân kích thích khởi đầu và hậu quả duy trì sự có mặt của hành vi theo những cách khác nhau. Hậu quả thực tế của một hành vi có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, liệu hành vi đó có xảy ra nữa hay không? Hậu quả mong muốn cũng có thể là kích thích khởi động ảnh hưởng đến việc liệu một người sẽ “cam kết” thực hiện hành vi vào lúc đó. Dự đoán về hậu quả có thể có cũng là một nhân tố xác định liệu những điều kiện “cần và đủ” này có đúng cho việc thực hiện hành vi hay không.

Theo quan điểm của tâm lý học hành vi thì bản chất và hành vi phạm tội của con người do môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội quyết định. Hầu hết các hành vi của con người là do tập nhiễm. Việc con người thực hiện hành vi phạm tội là do sự kích thích của môi trường chứ không phải do ý thức bên trong.

Phòng ngừa tội phạm từ quan niệm của Tâm lý học hành vi

Như đã phân tích ở trên, theo quan điểm của Tâm lý học hành vi thì việc con người phạm tội là do tác động của môi trường bên ngoài chứ không phải do ý thức bên trong. Do đó, để phòng ngừa tội phạm thì cần chú ý những điều sau:

Thứ nhất, cần phải đặc biệt chú trọng đến môi trường xã hội. Theo Tâm lý học hành vi, bản chất và hành vi phạm tội của con người do môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội quyết định. Một đứa trẻ sinh ra về bản chất đa phần là không thiện không ác, chỉ trong quá trình tiếp xúc với môi trường xã hội mới bắt đầu hình thành phẩm chất bản thân. Hoàn cảnh tốt giúp con người tiếp thu những cái tốt đẹp, tích cực và ngược lại, hoàn cảnh xấu sẽ mang lại những điều tiêu cực trong quá trình hình thành và phát triển con người, cụ thể là nhân cách và hành vi. Hành vi phạm tội ra đời dựa trên vấn đề nhân cách xấu và phẩm chất tâm lý tiêu cực đã hình thành xong và tích tụ trong bản chất con người.

Thứ hai, cần hình thành thói quen tuân thủ pháp luật. Việc hình thành các thói quen tuân theo pháp luật có tác động kiềm chế và làm mất đi phản xạ có điều kiện. Các nhà tâm lý học hành vi đã chứng minh rằng khi một người mẫu ngang hàng tiến hành hành vi gây hấn mà không có hậu quả tiêu cực thì nó sẽ làm tăng khả năng người quan sát cũng sẽ tiến hành những hành vi gây hấn bị cấm đoán tương tự khi bị đặt trong cùng một trường hành vi. Như vậy, khi một người quan sát chứng kiến một người khác phải chịu đựng hình phạt vì đã tiến hành những hoạt động bị cấm, vi phạm pháp luật thì khuynh hướng thực hiện những hành động sai lầm tương tự đó bị giảm đi.

Thứ ba, cần làm tốt công tác giáo dục. Tâm lý học hành vi tin rằng, nếu người bình thường nói chung và người phạm tội nói riêng được đặt vào một môi trường quản lý giáo dục tốt và tích cực, chuân mực đạo đức xã hội thì họ sẽ bị tác động bởi môi trường này mà khắc phục và điều chỉnh lại nhận thức, tâm lý của mình và có những hành vi đúng đắn.

Thứ tư, tránh xa những tình huống tiêu cực. Các tình huống dễ gây cảm xúc đóng vai trò như một tác nhân gây kích thích tác động đến hành vi của người phạm tội. Những tình huống dễ gây cảm xúc từ môi trường xã hội có thể tạo ra nhũng hành vi tích cực hoặc tiêu cực. Do đó, cần tránh xa những tình huống tiêu cực để tránh tạo ra những hành vi phạm tội.

Liên hệ với thực tiễn phòng ngừa tội phạm ở nước ta

Những điểm đã làm được

Thời gian qua, công tác phòng ngừa tội phạm ở nước ta đã có nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Cụ thể, đã đấu tranh làm giảm 2,72% số vụ phạm pháp hình sự, tỷ lệ điều tra, khám phá đạt 81,33% (vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra); án rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đạt 88,53%; giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt 87,2%; triệt phá 3.580 băng, nhóm tội phạm hình sự các loại; bắt, vận động đầu thú, thanh loại 6.360 đối tượng truy nã, trong đó có 1.389 đối tượng nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm.

Xét trên góc độ tổ chức các biện phạm phòng ngừa tội phạm theo quan điểm của tâm lý học hành vi, là tạo ra môi trường lành mạnh cho mỗi cá nhân được sinh hoạt và làm việc, chúng ta đã làm được những điều sau:

Thứ nhất, ngày càng nhiều những hội, nhóm được phát triển, tập hợp những người có cùng sở thích, đam mê lành mạnh như: hội nhà thơ, hội những người yêu cây cảnh,… từ đó tạo ra môi trường lành mạnh giúp gắn kết cộng đồng, giúp mọi người tránh xa khỏi những tệ nạn xã hội.

Thứ hai, những năm gần đây, công tác giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người, đặc biệt là đối tượng học sinh, sinh viên đang ngày càng được chú trọng. Các trường THCS, THPT hiện nay cũng đưa rất nhiều chương trình giáo dục pháp luật cho các em học sinh nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, giúp các em có ý thức tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Thông qua việc thực hiện đa dạng các mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật, thanh, thiếu niên đã được cung cấp các kiến thức pháp luật đồng bộ, hiệu quả trên các phương diện. Việc đưa các kiến thức pháp luật đến với thanh, thiếu niên đã được mềm hóa, dễ nhớ và dễ hiểu. Xóa đi cái cảm giác pháp luật là những sợi dây vô hình trói buộc mà chuyển hóa thành tư duy “pháp luật là công cụ hữu hiệu để bảo vệ và tạo cơ hội cho mình phát triển”. Từ đó, thúc đẩy việc nâng cao ý thức và hiểu biết pháp luật của thanh, thiếu niên. Tạo ý thức từ đối phó sang tự nguyên chấp hành pháp luật. Góp phần hạn chế và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật của thanh, thiếu niên.

Một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục

Tuy đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nhưng không thể phủ nhận vẫn còn có những tồn tại, hạn chế:

Nền kinh tế thị trường đã đưa đất nước ta tiến một bước dài trong quá trình hội nhập với quốc tế, cải thiện đời sống của mỗi người. Tuy nhiên, mặt trái của nó là làm cho xã hội dần dần trở nên xa rời những giá trị truyền thống mà trở nên thực dụng hơn. Đồng thời, tình hình tội phạm cũng diễn biến phức tạp hơn khi ngày càng xuất hiện nhiều những loại tội phạm mà trước đây không có như tội mua bán mô và bộ phận cơ thể người,… Bên cạnh đó, các tội phạm trước đã có thì nay cũng ngày càng trở nên nguy hiểm hơn khi được thực hiện xuyên quốc gia.

Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của Tâm lý học hành vi

Bên cạnh đó, sự phát triển của internet cũng đang là một thách thức đối với quá trình đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Internet giúp đưa mọi người đến gần nhau hơn, xóa nhòa mọi khoảng cách, giúp chúng ta tiếp cận thông tin dễ dàng. Tuy nhiên, hiện nay xuất hiện rất nhiều trang mạng không lành mạnh, tác động rất lớn đến tâm lý của mọi người, đặc biệt là đối với thanh, thiếu niên – đối tượng rất dễ bị lôi kéo vào con đường tội lỗi do không nhận thức đầy đủ.

Ngoài ra, bên cạnh những hội, nhóm tích cực thì cũng có rất nhiều những nhóm tiêu cực nổi lên, hoạt động của các băng nhóm tội phạm có tổ chức manh động liều lĩnh có sự gắn kết, đan xen giữa tội phạm hình sự với kinh tế, ma túy và núp bóng doanh nghiệp đe dọa lực lượng thực thi pháp luật, thi hành công vụ. Những nhóm tội phạm này là thách thức rất lớn cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm ở nước ta

Thứ nhất, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật và hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật. Hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng cần đảm bảo tính nghiêm minh nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo sự khoan hồng, có như vậy thì việc áp dụng hình phạt với người phạm tội mới có tác dụng giáo dục, cảm hóa họ và đồng thời có tính răn đe với những người có ý định phạm tội.

Thứ hai, cần loại bỏ tình huống dẫn đến phạm tội, đặc biệt là với tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, hiếp dâm… bởi những tội phạm này khi đối tượng thực hiện thì ngoài động cơ, mục đích phạm tội thì cần có những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, thuận lợi cho họ thực hiện hành vi. Do đó, để phòng ngừa tội phạm thì mỗi người trong chúng ta cần nâng cao ý thức cảnh giác, trước hết là tự bảo vệ mình, sau là để ngăn ngừa tội phạm.

Thứ ba, cần rèn luyện kỹ năng hành động, kỹ năng tình huống. Ngoài những kiến thức được học trong sách vở thì những kỹ năng để ứng phó với các tình huống thực tế là điều vô cũng quan trọng, nó giúp mỗi người có thể sinh tồn và vượt quá được những hoàn cảnh nguy hiểm, khó khăn nhất định.

Thứ tư, cần làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyển ỳ thức pháp luật, ý thức cảnh giác của mỗi người. Tất cả những điều trên chỉ có thể giúp ngăn ngừa tội phạm nếu mỗi người trong chúng ta đều có hiểu biết và có trách nhiệm hành động, do đó, công tác tuyên truyền, giáo dục đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc phòng ngừa tội phạm.

Thuyết tâm lý học hành vi tuy đã ra đời từ lâu và có những hạn chế nhất định nhưng những đóng góp của nó đối với công tác phòng ngừa tội phạm hiện nay là không thể phủ nhận. Việc thực hiện tốt những biện pháp phòng ngừa tội phạm sẽ ngăn chặn tội phạm ngay từ khi nó chưa xảy ra, như vậy sẽ giảm thiểu tối đa thiệt hại cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự.


Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của Tâm lý học hành vi. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

Trân trọng./.

phone-call

GỌI HỎI ĐÁP MIỄN PHÍ

Scroll to Top