Phân tích sự khác nhau cơ bản giữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài

Phân tích sự khác nhau cơ bản giữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài

Trong quá trình hợp tác kinh doanh, việc xảy ra mâu thuẫn, là điều không thể tránh khỏi. Đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế đang hội nhập ngày càng sâu rộng thì các tranh chấp trong kinh doanh thương mại diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp, đòi hỏi những phương thức giải quyết tranh chấp nhanh chóng và mang lại hiệu quả thực sự. Với bản chất là một quan hệ pháp luật dân sự, đề cao tính tự nguyện, sự tự thỏa thuận giữa các bên, khi xảy ra tranh chấp trong kinh doanh, các bên có quyền tự thỏa thuận, thương lượng giải quyết với nhau. Khi không thể tự giải quyết, một trong các bên có quyền yêu cầu một cơ quan tài phán đứng ra giải quyết tranh chấp. Theo quy định của pháp luật hiện nay, cơ quan tài phán mà các bên có thể lựa chọn để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, trong đó có tranh chấp về hợp đồng là Trọng tài Thương mại (sau đây viết tắt là “Trọng tài” hoặc “TTTM”) và Tòa án nhân dân (sau đây viết tắt là “Tòa án” hoặc “TAND”). Việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng trong kinh doanh bằng hai hình thức này có gì khác nhau mà các chủ thể của các tranh chấp kinh doanh cần lưu ý khi lựa chọn? Những khác biệt cơ bản giữa hai phương thức giải quyết tranh chấp này sẽ phần nào được làm rõ qua việc tìm hiểu, nghiên cứu và trình bày đề tài tiểu luận sau:


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Bộ luật dân sự 2015
  • Bộ luật tố tụng dân sự 2015
  • Luật thương mại 2005
  • Luật trọng tài thương mại 2010
  • Luật doanh nghiệp 2014

Phân tích sự khác nhau cơ bản giữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài

Vì đề tài yêu cầu trình bày sự khác nhau cơ bản trong giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh qua hai hình thức là TTTM và TAND nên phạm vi nghiên cứu của tiểu luận này sẽ tập trung vào những vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến tranh chấp về hợp đồng trong kinh doanh (không đi vào tất cả các tranh chấp kinh doanh thương mại) được giải quyết bằng TTTM và TAND như thế nào, liên hệ với một số tình huống thực tế để làm rõ những điểm khác biệt của hai hình thức giải quyết tranh chấp này.

Những vấn đề chung về tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh

Tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh

Tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh là một dạng của tranh chấp trong kinh doanh thương mại nói chung. Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về “Tranh chấp về kinh doanh thương mại”. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng tồn tại những khái niệm khác nhau về lĩnh vực tranh chấp này, tuy nhiên, những khái niệm này theo thời gian đã cho thấy không còn phù hợp với tình hình các tranh chấp kinh doanh thương mại xảy ra trên thực tế. Pháp luật hiện hành trực tiếp điều chỉnh như Luật Thương mại năm 2005 (viết tắt là “LTM 2005”) và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (viết tắt là “BLTTDS 2015”) cũng không có khái niệm cụ thể về tranh chấp này. Một lý do có thể lý giải là do các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại luôn biến đổi một cách linh hoạt, một định nghĩa đưa ra có thế sẽ lỗi thời trong tương lai và như thế vô hình chung sẽ trói buộc các chủ thể và các cơ quan tài phán trong việc giải quyết tranh chấp. Vì thế mà pháp luật đưa ra những đặc điểm chung để nhận dạng loại tranh chấp này trên thực tế tạo thuận lợi cho việc giải quyết trong thực tế.

Đối với tranh chấp về hợp đồng trong kinh doanh, có thể hiểu phạm vi của tranh chấp đã được thu hẹp lại, đó là những tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể có quan hệ hợp đồng với nhau trong kinh doanh. Tranh chấp về hợp đồng trong kinh doanh có đầy đủ các đặc điểm của một tranh chấp kinh doanh thương mại nhưng điểm khác biệt đó là tranh chấp này phát sinh từ chính hợp đồng trong kinh doanh mà các bên chủ thể đã giao kết với nhau. Chính từ đặc điểm này có thể dẫn chiếu đến quy định về định tranh chấp thương mại được quy định tại Điều 238 Luật Thương mại năm 1997: “…tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Hợp đồng chính là trung tâm mà từ đó mâu thuẫn, xung đột giữa các bên phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng kinh doanh cũng phải luôn luôn dựa trên những thỏa thuận trong hợp đồng mà các bên đã ký để hóa giải. Như vậy, có thể hiểu tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh là những mâu thuẫn phát sinh giữa các bên (có thể tất cả hoặc một trong các bên có đăng ký kinh doanh) trong việc thực hiện các hợp đồng thương mại mà các bên đã giao kết.

Tranh chấp hợp đồng kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài

Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh

Hiện nay, tranh chấp thương mại được giải quyết bằng các phương thức:

  •  Thương lượng giữa các bên.
  •  Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
  • Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.

Mỗi phương thức có sự khác nhau về tính chất pháp lý, nội dung, trình tự thủ tục tiến hành. Khi có tranh chấp xảy ra, các bên có quyền tự do lựa chọn phương thức phù hợp, phụ thuộc vào lợi thế mà mỗi phương thức có thể đem lại và mức độ phù hợp của phương thức với nội dung, tính chất của tranh chấp cũng như sự thiện chí của các bên.

Phương thức thương lượng là một hình thức giải quyết tranh chấp đơn giản, chỉ có hai bên tham gia, pháp luật cũng không quy định trình tự, thủ tục cụ thể cho hình thức này. Trong khi đó, theo Điều 3 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP thì hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp. Với sự xuất hiện của một bên trung gian là hòa giải viên thương mại thì việc giải quyết tranh chấp sẽ phải tuân thủ các quy định của pháp luật điều chỉnh nó. Có thể coi thương lượng và hòa giải là những phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanh gọn và đảm bảo được hiệu quả cũng như giúp các bên bảo vệ được bí mật kinh doanh nếu như các bên có sự thiện chí.

So với hai phương thức trên thì phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài và Tòa án phức tạp hơn trong trình tự thủ tục nhưng lại đem lại hiệu quả hơn khi các bên không thể ngồi lại để đưa ra những thỏa thuận nhằm giải quyết những mâu thuẫn và xung đột hiện có. Đây là hai phương thức hiện đang được các chủ thể có tranh chấp về hợp đồng kinh doanh áp dụng phổ biến trên thức tế.

Phân tích sự khác nhau cơ bản giữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài
Phân tích sự khác nhau cơ bản giữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài

Sơ lược về giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài và Tòa án và mối quan hệ giữa hai cơ quan giải quyết tranh chấp 

Trước khi đi vào phân tích những điểm khác biệt cơ bản của hai phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh là Trọng tài thương mại và Tòa án, cần nắm được những đặc điểm chính về hai hình thức này cũng như mối quan hệ giữa hai cơ quan này trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.

Khái niệm và đặc điểm của giải quyết tranh chấp tại Trọng tài thương mại

Giải quyết tranh chấp bằng TTTM là phương thức giải quyết thông qua hoạt động của Trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt các xung đột bằng việc đưa ra phán quyết trọng tài buộc các bên tôn trọng và thực hiện.

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chính phủ do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết. Phương thức này có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, Trọng tài chỉ giải quyết tranh chấp thương mại khi có yêu cầu của các bên tranh chấp và tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài. Việc yêu cầu giải quyết tranh chấp của các bên được ghi nhận bằng thỏa thuận trọng tài; thỏa thuận này có thể được xác lập trước hoặc sau khi có sự kiện tranh chấp xảy ra. Thỏa thuận trọng tài phải đảm bảo hiệu lực pháp luật theo quy định. Việc thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa rất quan trọng. Các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài bao gồm:

  • Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại;
  • Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất 01 bên có hoạt động thương mại;
  • Tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.

Hai là, chủ thể giải quyết tranh chấp là các Trọng tài viên thực hiện thông qua Hội đồng trọng tài gồm một Trọng tài viên hoặc nhiều Trọng tài viên. Trọng tài viên là người do các bên lựa chọn hoặc được Trung tâm trọng tài chỉ định hoặc Tòa án chỉ định để giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (viết tắt là Luật TTTM 2010).

Ba là, giải quyết tranh chấp bằng TTTM đảm bảo sự kết họp của hai yếu tố: thỏa thuận và phán quyết. Trong tố tụng trọng tài, các bên được chủ động và tự do thỏa thuận về lựa chọn trung tâm trọng tài, trọng tài viên, luật áp dụng… Bên cạnh đó, khi đã lựa chọn TTTM để giải quyết tranh chấp thì khi Phán quyết trọng tài được đưa ra là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Bốn là, TTTM là một có chế giải quyết tranh chấp bảo đảm tính bí mật. Theo quy định tại Điều 4, khoản 4 LTTTM 2010 thì việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành không công khai trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Tính bí mật thể hiện ở việc nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin bảo mật thông tin của các chủ thể tranh chấp. Quy định này có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo nhu cầu cạnh tranh trên thị trường và giải quyết được sự quan ngại vì nếu nội dung vụ tranh chấp được công khai sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của doanh nghiệp.

Khái niệm và đặc điểm của giải quyết tranh chấp tại Tòa án

Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án – cơ quan xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ. các phán quyết có hiệu lực của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.

Giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án có những đặc điểm sau:

Một là, TAND chỉ giải quyết tranh chấp thương mại khi có yêu cầu của các bên tranh chấp và tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc Tòa án đứng ra giải quyết tranh chấp chỉ bắt đầu khi một trong các bên tranh chấp có đơn khởi kiện. Khi tiếp nhận đơn khởi kiện, Tòa án sẽ tiến hành xem xét các điều kiện khởi kiện và yêu cầu bên khởi kiện sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện nếu cần thiết. Tuy nhiên, nếu việc khởi kiện không đảm bảo đúng quy định của pháp luật thì Tòa án sẽ trả lại đơn. Thẩm quyền của Tòa án theo quy định của BLTTDS 2015 bao gồm: thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn (trong một số trường hợp).

Hai là, phán quyết của Tòa án được đưa ra bằng bản án, quyết định nhân danh ý chí quyền lực Nhà nước và được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh của quyền lực Nhà nước.

Ba là, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp thực hiện thông qua hai cấp xét xử của Tòa án là sơ thẩm và phúc thẩm. Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên, Tòa án có thể thực hiện theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm để xem xét lại các bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật.

Bốn là, Bản án, quyết định của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Trong thời hạn luật định, các bên có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án.

Mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài thương mại

Mặc dù là hai cơ quan hoàn toàn độc lập nhưng trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, giữa hai cơ quan vẫn có mối quan hệ nhất định trên một số phương diện.

Tại Điều 6 Luật TTTM 2010 quy định: một khi các bên đã thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM thông qua một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, thì khi đó tòa án phải từ chối thụ lý đơn khởi kiện khi một trong các bên khởi kiện tại tòa án để giải quyết tranh chấp. Lúc này, dù không trực tiếp giải quyết, nhưng tòa án có vai trò hỗ trợ và giám sát hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại khi một trong các bên hoặc Hội đồng trọng tài có yêu cầu. Luật TTTM 2010 cũng quy định rất rõ điều kiện để một tranh chấp thương mại có được giải quyết bằng TTTM, cũng như các thủ tục để một tranh chấp được giải quyết bằng TTTM. Theo đó, để một tranh chấp thương mại được giải quyết bằng TTTM, giữa các bên phải có một thỏa thuận trọng tài, nghĩa là các bên phải có thỏa thuận về việc giải quyết bằng trọng tài đối với các tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh (theo khoản 2 Điều 3 Luật TTTM 2010) và thỏa thuận này phải có hiệu lực. Tuy nhiên, Tòa án vẫn có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp có thỏa thuận trọng tài thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 18 Luật TTTM 2010 và hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP như: Có quyết định của Tòa án hủy Phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên…(trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác).

Trường hợp vừa có thỏa thuận trọng tài, vừa có thỏa thuận Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp mà các bên không có thỏa thuận lại hoặc thỏa thuận mới về cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và không thuộc trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi có thỏa thuận trọng tài cũng đã từng là một vấn đề bất cập trên thực tế. Tuy nhiên, Nghị quyết số 01/2014/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã có quy định về vấn đề này cụ thể:

Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết trước khi yêu cầu Tòa giải quyết hoặc trước khi Tòa thụ lý thì Tòa phải từ chối thụ lý, giải quyết. Khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa phải trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp đã thụ lý, Tòa phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện;

Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết, Tòa phải xác định một trong các bên đã yêu cầu Trọng tài giải quyết hay chưa. Nếu Tòa xác định người bị kiện, người khởi kiện đã yêu cầu Trọng tài giải quyết thì trả lại đơn cho người khởi kiện. Trường hợp người bị kiện, người khởi kiện chưa yêu cầu Trọng tài giải quyết thì Tòa xem xét thụ lý giải quyết theo thủ tục chung. Nếu Tòa đã thụ lý mà phát hiện đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết trước thời điểm Tòa thụ lý thì Tòa ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện.

Mặc dù đã có hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao nhưng trên thực tế còn xảy ra trường hợp, một bên khởi kiện ra Trọng tài thương mại và bên kia không khởi kiện ra Tòa án nhân dân nhưng phản đối thẩm quyền của TTTM. Trong vụ tranh chấp có thỏa thuận trọng tài ”mâu thuẫn” nêu trên, nguyên đơn khởi kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) và Hội đồng trọng tài đã chấp nhận thẩm quyền nhưng bị đơn khiếu nại quyết định chấp nhận thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và không được Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đồng ý. Theo TAND thành phố Hồ Chí Minh, “việc cho rằng Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp do Hợp đồng các bên vừa thỏa thuận Trọng tài, vừa thỏa thuận Tòa án giải quyết tranh chấp là mâu thuẫn và chưa rõ ràng về thẩm quyền giải quyết tranh chấp là không có cơ sở” và từ đó TAND thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định “Trung tâm Trọng tài VIAC có thẩm quyền giải quyết vụ kiện”.

Những điểm khác biệt cơ bản giữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài

Về tính chất pháp lý

Giữa Tòa án và Trọng tài có sự khác biệt rất rõ về tính chất pháp lý của mỗi loại cơ quan. TAND là một cơ quan nhà nước nằm trong hệ thống cơ quan tư pháp. Trong quá trình tố tụng, tòa án nhân danh Nhà nước để xem xét, xử lý vi phạm pháp luật nhằm duy trì trật tự công cộng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh. Trong khi đó, các trung tâm trọng tài đều tồn tại với tư cách là một tổ chức phi chính phủ, mang tính chất xã hội – nghề nghiệp.

Về thẩm quyền giải quyết

Xét về thẩm quyền theo vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết rộng hơn so với Trọng tài. Tòa án có thẩm quyền giải quyết hầu hết tất cả các tranh chấp trong kinh doanh. Trong khi đó, khác với tòa án, thẩm quyền của trọng tài có thể thay đổi, hoặc thu hẹp lại tùy theo từng trung tâm trọng tài.

Dưới góc độ thẩm quyền theo lãnh thổ, trong tố tụng trọng tài không đặt ra vấn đề thẩm quyền về mặt lãnh thổ. Các bên tranh chấp có quyền lựa chọn bất cứ trung tâm trọng tài nào để giải quyết cho mình theo ý muốn và sự tín nhiệm của họ. Nhưng đối với tòa án, không phải vụ tranh chấp trong kinh doanh nào cũng được tòa thụ lý giải quyết. Đơn kiện chỉ được tòa án thụ lý giải quyết khi được chuyển đến tòa án có thẩm quyền giải quyết. Việc lựa chọn Tòa án theo lãnh thổ sẽ phụ thuộc vào từng tranh chấp cụ thể. Tuy nhiên, thông thường, các tranh chấp sẽ được Tòa án nơi có trụ sở của bị đơn thụ lý giải quyết nhưng pháp luật tố tụng dân sự cũng cho phép các bên tranh chấp được thỏa thuận lựa chọn Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở để giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp tranh chấp về bất động sản thì giải quyết tại Tòa án nơi có bất động sản.

Đối với giải quyết tranh chấp tại Tòa án thì pháp luật về tố tụng dân sự còn đặt ra vấn đề thẩm quyền theo cấp (Điều 35 BLTTDS 2015) và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn trong một số trường hợp (Điều 40 BLTTDS 2015). Việc đặt ra quy định về thẩm quyền theo cấp của Tòa án xuất phát từ nguyên tắc xét xử hai cấp theo quy định tại Điều 17 BLTTDS 2015; theo đó, bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Ngoài ra, những bản án, quyết định này còn có thể bị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm. Trong khi đó, đối với TTTM, pháp luật không đặt ra vấn đề thẩm quyền theo cấp bởi các phán quyết của Hội đồng Trọng tài mang tính chung thẩm. Đặc điểm này sẽ được tách riêng để phân tích ở phần sau của bài tiểu luận.

Đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM, một vấn đề quan trọng liên quan đến việc một tranh chấp trong thương mại có được giải quyết tại Trọng tài hay không là việc các bên phải có thỏa thuận trọng tài. Không những phải đảm bảo về sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài mà còn phải đảm bảo giá trị pháp lý của thỏa thuận đó. Theo khoản 2 Điều 3 Luật TTTM 2010, để một tranh chấp thương mại được giải quyết bằng trọng tài thương mại, giữa các bên phải có một thỏa thuận trọng tài, nghĩa là các bên phải có thỏa thuận về việc giải quyết bằng trọng tài đối với các tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh và thỏa thuận này phải có hiệu lực. Trong khi đó, với phương thức giải quyết tại Tòa án, các bên không cần phải có sự thỏa thuận trước mà chỉ cần một bên thấy rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm là đã có thể khởi kiện tại Tòa án theo thẩm quyền được quy định trong BLTTDS.

Về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp

Xuất phát từ bản chất pháp lý của mỗi cơ quan, một bên nhân danh quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền lợi cho các bên, một bên là nhân danh ý chí và quyền định đoạt của các bên đương sự nên khi giải quyết tranh chấp mỗi cơ quan sẽ có một trình tự thủ tục riêng biệt với những ưu điểm và hạn chế khác nhau.

Trong tố tụng trọng tài, Trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài chỉ xét xử một lần các tranh chấp kinh doanh. Phán quyết của trọng tài là quyết định chung thẩm, có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị. Đây là nguyên tắc đặc trưng của tố tụng trọng tài so với tố tụng tòa án. Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của tố tụng trọng tài là nhân danh ý chí và quyền định đoạt của các bên đương sự. Các bên đương sự đã tự do lựa chọn và tín nhiệm người phán xử cho mình thì đương nhiên phải phục tùng quyết định của người đó. Quy trình giải quyết tại trọng tài linh hoạt hơn so với quy trình giải quyết tại Tòa án. Tùy thuộc vào việc các bên lựa chọn hình thức trọng tài nào để giải quyết thì sẽ có trình tự thủ tục riêng đối với từng loại. Nếu lựa chọn giải quyết theo Trọng tài quy chế thì khi giải quyết các bên sẽ phải tuân thủ theo quy định của Luật TTTM 2010 và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó. Ví dụ: Trong hợp đồng, tại điều khoản giải quyết tranh chấp, các bên lựa chọn giải quyết tại Trung tâm Trọng tài thương mại quốc tế Việt Nam (VIAC) thì khi có tranh chấp xảy ra, một trong các bên sẽ nộp đơn đến VIAC. Sau khi được thụ lý, các bên sẽ phải tuân theo các quy định của Luật TTTM 2010 và quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài này. Nếu lựa chọn Trọng tài vụ việc để giải quyết thì các bên sẽ vẫn phải tuân theo quy định của Luật TTTM 2010 và các bên được tự thoả thuận trình tự, thủ tục. Tính linh hoạt và chủ động của phương thức giải quyết bằng trọng tài trong trình tự thủ tục chính là một ưu điểm của phương thức này khiến các chủ thể của tranh chấp đang ngày càng có xu hướng lựa chọn nhiều hơn, đặc biệt là những tranh chấp có một hoặc các bên là pháp nhân nước ngoài.

Trong khi đó, trong tố tụng Tòa án có hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm, trong một số trường hợp phán quyết của tòa án còn có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm xuất phát từ việc Tòa án là cơ quan nhà nước, nhân danh nhà nước để xét xử. Khi có một trong các bên của tranh chấp hợp đồng kinh doanh khởi kiện vụ án tại Tòa án thì các bên sẽ mặc nhiên có nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hiện hành. Trong tố tụng tại Tòa án, các bên vẫn được bảo đảm quyền tự định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp (quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015) nhưng quy trình tố tụng thì vẫn phải đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật điều chỉnh. Mọi hoạt động tố tụng sẽ dưới sự điều khiển của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tùy thuộc từng giai đoạn của quá trình tố tụng. Như vậy, so với tố tụng Trọng tài, tố tụng tại Tòa án có phần chặt chẽ và mang tính bắt buộc hơn.

Phân tích sự khác nhau cơ bản giữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài

Về phán quyết và cơ chế bảo đảm thi hành

Bản chất và cơ chế bảo đảm thi hành của phán quyết của Trọng tài và Tòa án chính là một trong những điểm khác nhau cơ bản nhất của hai cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nói chung và hợp đồng trong kinh doanh nói riêng.

Đối với Trọng tài, kết quả cuối cùng của quá trình giải quyết tranh chấp chính là Phán quyết trọng tài. Phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm tức là đó là phán quyết cuối cùng, không bị kháng cáo hay kháng nghị như bản án hay quyết định của Tòa án và do đó nó sẽ có hiệu lực thi hành ngay. Đây cũng chính là một ưu điểm của phương thức giải quyết này. Các bên không cần đợi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà phán quyết đó có thể được mang ra thi hành ngay, đảm bảo tính nhanh chóng và tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên. Tuy nhiên, phán quyết trọng tài lại không mang tính cưỡng chế như bản án hay quyết định của Tòa án. Phán quyết đó có thể bị một trong các bên phá vỡ bất cứ lúc nào. Hiện nay, theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại và tố tụng dân sự có những quy định hỗ trợ của cơ quan thi hành án đối với các phán quyết trọng tài nhằm đảm bảo sự thi hành của phán quyết đã tuyên. Song tính bắt buộc thực hiện của phán quyết trọng tài vẫn là một điểm yếu của phương thức Trọng tài so với Tòa án.

Trong khi đó, đối với Tòa án, việc giải quyết tranh chấp kết thúc bằng việc Hội đồng xét xử ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án đó. Tuy nhiên, đây là sự kết thúc “không hoàn toàn” vì bản án hay quyết định đó, trong trường hợp luật định sẽ có thể bị kháng nghị, kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm; thậm chí là còn có thể bị giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có một trong cá căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Điều này cũng có một ưu điểm đó là nếu vụ tranh chấp chưa đảm bảo tính công bằng hay chưa giải quyết được quyền lợi chính đáng của các bên thì Tòa án có thể khắc phục lại bằng một phán quyết mới. Mặc dù vậy, chính từ việc có thể bị xét xử lại khiến cho việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án mất nhiều thời gian của các bên hơn so với Trọng tài. Nhưng bù lại, bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa án lại được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước thông qua hệ thống cơ quan thi hành án, có trách nhiệm thúc đẩy việc thi hành bản án, quyết định được hiệu quả hơn. Hiện nay, phương tức giải quyết tranh chấp tại Tòa án vẫn được vẫn được các bên tranh chấp (đặc biệt là tranh chấp giữa các chủ thể trong nước) ưu tiên lựa chọn hơn cũng chính là nhờ tính cưỡng chế này

Về nguyên tắc xét xử công khai

Đây cũng chính là một tiêu chí để các bên trong tranh chấp hợp đồng kinh doanh cân nhắc khi lựa chọn giữa Trọng tài và Tòa án. Trong tố tụng tại Tòa án, Việc xét xử của tòa án không chỉ có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự mà còn có ý nghĩa giáo dục việc tuân theo pháp luật. Điều này là một nguyên tắc cơ bản được quy định tại Khoản 2 Điều 15 BLTTDS 2015. Do vậy, hầu hết các phiên tòa đều được tiến hành công khai, các bản án thường được công bố rộng rãi trước công chúng. Quy định này dẫn đến khó khăn khi bảo vệ các thông tin bí mật mặc dù luật cũng cho phép việc đảm bảo bí mật kinh doanh trong tố tụng Tòa án song còn phụ thuộc vào việc quyết định của Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử và như thể không thể triệt để như khi giải quyết tại Trọng tài. Trong khi đó, trong tố tụng trọng tài, mọi tình tiết và kết quả đều không được công bố công khai nếu không được sự chấp thuận của các bên. Đây cũng lại là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng trọng tài được quy định tại Khoản 4 Điều 4 Luật TTTM 2010. Xuất phát từ nhu cầu phải bảo vệ một cách nghiêm ngặt các bí mật nghề nghiệp, uy tín và danh tiếng trên thương trường của các nhà kinh doanh mà pháp luật không bắt buộc các phiên họp xét xử trọng tài phải tiến hành công khai.

Trên đây là những điểm khác nhau cơ bản giữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài. Việc phân biệt được sự khác nhau của hai phương thức Trọng tài và Tòa án sẽ giúp các chủ thể tranh chấp có thể sáng suốt lựa chọn được phương thức phù hợp để giải quyết những tranh chấp trong kinh doanh mà họ gặp phải. Lựa chọn được một cách giải quyết tối ưu khi có tranh chấp xảy ra khi thực hiện hoạt động trong kinh doanh chính là cách để các chủ thể có thể hạn chế những rủi ro, đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh được duy trì, bảo vệ được tối đa quyền và lợi ích của mình khi có sự vi phạm hợp đồng xảy ra.

Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng Trọng tài và Tòa án ngày càng hoàn thiện để phù hợp hơn với những tranh chấp xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, sự bất cập giữa pháp luật điều chỉnh và tranh chấp cụ thể trên thực tế là điều không thể tránh khỏi. Do đó, khi áp dụng pháp luật các chủ thể cần áp dụng một cách linh hoạt và các nhà làm luật cũng cần tiệm cận hơn nữa với thực tế để đề ra những quy định điều chỉnh tốt hơn để có thể giải quyết các tranh chấp một cách hiệu quả, bảo đảm lợi ích tối đa của các nhà kinh doanh./.


Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề: Phân tích sự khác nhau cơ bản giữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh bằng Tòa án và Trọng tài. Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.


 

phone-call

GỌI HỎI ĐÁP MIỄN PHÍ

Scroll to Top