Trợ cấp thôi việc tính như thế nào theo quy định pháp luật hiện hành

0
46

      Hỏi: Xin chào luật sư. Tôi tên là N cùng với chị P là người của công ty cung ứng xuất nhập khẩu lao động hàng không, được công ty cử sang làm tại văn phòng đại diện của hãng hàng không của Nga tại Hà Nội. Chúng tôi đã làm việc cho văn phòng đại diện này từ năm 2003 đến năm 2005. Hết hạn hợp đồng, tôi và chị P tiếp tục làm việc tại văn phòng đại diện thông qua hợp đồng được ký giữa văn phòng đại diện và công ty cung ứng xuất nhập khẩu lao động có thời hạn từ năm 2006 đến năm 2008. Trong hợp đồng này có quy định về điều kiện chấm dứt hợp đồng và trợ cấp thôi việc khi hai bên thống nhất chấm dứt hợp đồng theo quy định tại các Điều 36, 37, 38 Bộ luật lao động thì văn phòng đại diện có nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền trợ cấp cho người lao động tương đương tháng lương cuối cùng nhân với số năm. Sau đó, khi gần hết hạn hợp đồng, ngày 1/12/2008 tôi và chị P lại được văn phòng đại diện trực tiếp ký hợp đồng với thời gian làm việc đến năm 2014. Đến ngày 1/1/2013, văn phòng đại diện ra thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với chúng tôi với lý do cắt giảm chuyến bay,văn phòng chuyển sang tình trạng không hoạt động. Trước lý do đó, tôi và chị P đều đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động với văn phòng đại diện. Vậy, tôi muốn hỏi trường hợp của tôi và chị P có được hưởng trợ cấp thôi việc không?.Và  trợ cấp thôi việc  tính  như thế nào biết tiền lương tôi được nhận là 10 triệu đồng và chị P là 15 triệu đồng.

Trợ cấp thôi việc tính như thế nào theo quy định pháp luật hiện hành


Cơ sở pháp lý

Bộ luật lao động 2012

Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.


trợ cấp thôi việc tính như thế nào
trợ cấp thôi việc tính như thế nào

      Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho Tổng đài tư vấn. Về vấn đề điều kiện và trợ cấp thôi việc tính như thế nào của anh,  chúng tôi xin tư vấn cho anh như sau:

1.Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc

     Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật lao động 2012:

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương”.

      Như vậy, điều kiện để được hưởng trợ cấp thôi việc đó là:

-Một là, hợp đồng lao động được chấm dứt theo quy định tại các khoản  1, 2, 3, 5, 6,7, 9, 10 của Điều 36 Bộ luật lao động.Cụ thể:

+Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

+Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

+Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

+Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

+Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

+Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

+Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

+Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Hai là, người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên.

      Căn cứ vào dữ liệu mà anh cung cấp, thì anh và chị P đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động. Anh và chị P chấm dứt hợp đồng lao động với văn phòng đại diện thuộc khoản 3 Điều 36 Bộ luật lao động(hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động). Đây là trường hợp mà theo Điều 48 sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc. Bên cạnh đó, anh và chị P đã làm việc cho văn phòng đại diện từ năm 2003 đến năm 2014, tức là đủ điều kiện thứ hai: người lao động làm việc từ đủ 12 tháng trở lên.

trợ cấp thôi việc tính như thế nào
trợ cấp thôi việc tính như thế nào

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT 24H : 19006184

2.Trợ cấp thôi việc  tính như thế nào trong trường hợp của anh N và chị P.

      Trong thời gian làm việc của anh và chị P tại văn phòng đại diện từ năm 2003 đến năm 2013 được điều chỉnh bởi 3 hợp đồng:

-Thời gian từ năm 2003 đến năm 2005: đươc điều chỉnh bởi hợp đồng lao động được ký trực tiếp giữa hai anh chị với văn phòng đại diện hãng hàng không Nga.

-Thời gian làm việc từ năm 2006 đến năm 2008: được điều chỉnh bởi hợp đồng lao động được ký giữa công ty cung ứng xuất nhập khẩu lao động hàng không với văn phòng đại diện.

-Thời gian làm việc từ năm 2009 đến năm 2014: là hợp đồng được ký trực tiếp giữa văn phòng đại diện với anh N và chị P (nhưng hợp đồng này đã dừng lại ở năm 2013).

     Do đó, trợ cấp thôi việc tính như thế nào trong trường hợp này sẽ phụ thuộc vào quy định tại Bộ luật lao động và các nghị định hướng dẫn.

     Căn cứ vào khoản 2,3 Điều 48 Bộ luật lao động 2012:

“2.Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3.Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

     Mặt khác, tại khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể cách tính trợ cấp thôi việc :

“3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc”.

     Như vậy, trợ cấp thôi việc =Tổng thời gian làm việc cho người sử dụng lao động*tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp*1/2.

     Do đó, trợ cấp thôi việc của anh N và chị P sẽ được tính:

-Đối với anh N:

+Thời gian làm việc từ năm 2003 đến năm 2005: 2 năm *10 triệu*1/2=10 triệu.

+Thời gian làm việc từ năm 2006 đến năm 2008: Trong hợp đồng lao động được ký giữa công ty cung ứng xuất nhập khẩu lao động hàng không với văn phòng đại diện có quy định về điều kiện chấm dứt hợp đồng lao động. Theo đó, trong hợp đồng này có quy định nếu khi một trong hai bên chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36, 37, 38 Bộ luật lao động thì văn phòng đại diện có nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền trợ cấp cho người lao động tương đương tháng lương cuối cùng nhân với số năm làm việc. Do đây là một quy định có lợi cho người lao động nên được pháp luật khuyến khích. Vì vậy, tiền trợ cấp thôi việc mà anh nhận được từ năm 2006 đến năm 2008 là:

Tiền trợ cấp= 2 năm *10 triệu= 20 triệu đồng

+Thời gian làm việc từ năm 2009 đến khi nghỉ việc: Vì từ ngày 1/1/2009 người lao động bắt buộc phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Nên thay vì được hưởng trợ cấp thôi việc anh sẽ được chi trả bảo hiểm thất nghiệp khi nghỉ việc theo quy định của pháp luật.

-Đối với chị P:

+Thời gian làm việc từ năm 2003 đến năm 2005= 2 năm *15 triệu *1/2=15 triệu

+Thời gian làm việc từ năm 2006 đến năm 2008: như trường hợp của anh N nên tiền trợ cấp thôi việc được hưởng: 2 năm *15 triệu=30 triệu.

+Thời gian làm việc từ năm 2009 đến khi nghỉ việc: được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật.

     Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi đối với về vấn đề điều kiện và trợ cấp thôi tính như thế nào của anh. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, anh vui lòng liên hệ  Tổng đài tư vấn pháp luật 24h : 19006184 để được hỗ trợ kịp thời.


Bài viết liên quan:

Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp và mức chi trả trợ cấp thất nghiệp

Công ty chấm dứt hợp đồng vì lý do thay đổi cơ cấu công nghệ

Rút ngắn thời giờ làm việc cho người lao động cao tuổi