Quy định của pháp luật hiện hành về loại hợp đồng lao động

0
36

     Hỏi: Tôi làm việc tại một công ty mỹ phẩm A của nước ngoài từ năm 2008 với vị trí là trưởng phòng kế toán. Trong 2 năm làm việc đầu tiên, tôi không được ký hợp đồng lao động bằng văn bản mà chỉ giao kết hợp đồng bằng miệng. Đến năm thứ 3 thì công ty có ký hợp đồng lao động bằng văn bản với tôi nhưng chỉ có thời hạn 1 năm. Khi gần hết hạn hợp đồng này, công ty yêu cầu tôi giao kết tiếp một  hợp đồng lao động nữa và có thời hạn là 2 năm. Vậy, tôi muốn hỏi việc ký hợp đồng lao động của công ty với tôi có hợp pháp hay không và xác định loại hợp đồng lao động giữa tôi và công ty mỹ phẩm A. Bây giờ tôi muốn xin nghỉ việc tại công ty A và đã được công ty đồng ý, vậy tôi có đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc hay không?.

Quy định của pháp luật hiện hành về loại hợp đồng lao động


Cơ sở pháp lý

Bộ luật lao động 2012

Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.

Luật việc làm 2013.


loại hợp đồng lao động
loại hợp đồng lao động

      Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho Tổng đài tư vấn. Về vấn đề xác định loại hợp đồng lao động của anh, chúng tôi xin tư vấn cho anh như sau:

1.Loại hợp đồng lao động giữa công ty A với anh.

a, Xác định về hình thức của hợp đồng lao động giữa công ty A với anh

      Thời gian anh làm việc với công ty mỹ phẩm A được chia thành hai giai đoạn:

-Giai đoạn 2 năm đầu tiên không ký hợp đồng lao động bằng văn bản mà chỉ ký hợp đồng lao động bằng miệng.

-Giai đoạn từ năm thứ ba đến nay, công ty có ký hợp đồng lao động với anh bằng văn bản với thời hạn lần lượt là 1 năm, 2 năm.

       Căn cứ theo quy định tại Điều 16 Bộ luật lao động thì hợp đồng phải được giao kết bằng hình thức văn bản:

“Điều 16. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời.”

     Như vậy, đối chiếu với quy định trên, việc công ty mỹ phẩm A không ký hợp đồng lao động bằng văn bản với anh trong 2 năm làm việc đầu tiên là trái quy định của pháp luật. Bởi vì công việc của anh là trưởng phòng kế toán, đây là công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và có thời hạn lâu dài nên không thể giao kết bằng miệng.

b, Loại hợp đồng lao động giữa công ty mỹ phẩm A với anh

      Điều 22 Bộ luật lao động 2012  đã có quy định về loại hợp đồng lao động:

“Điều 22. Loại hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng“.

      Do đó, căn cứ vào dữ liệu mà anh cung cấp, chúng tôi xin xác định loại hợp đồng lao động lao động của anh như sau:

-Hợp đồng 1: Trong 2 năm làm việc đầu tiên, công ty có giao kết hợp đồng lao động với anh với thời hạn là 2 năm. Vì vậy, hợp đồng này là hợp đồng có xác định thời hạn (theo quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 22 Bộ luật lao động).

-Hợp đồng 2: Sau khi hết thúc hợp đồng 2 năm trên, anh vẫn tiếp tục làm việc tại công ty và được công ty giao kết thêm một hợp đồng lao động có thời hạn là 1 năm. Đây vẫn là hợp đồng có xác định thời hạn theo quy định của pháp luật.

-Hợp đồng 3: Bước sang năm làm việc thứ 4, công ty mỹ phẩm A vẫn có nhu cầu giao kết hợp đồng lao động với anh nên đã cùng anh ký tiếp một hợp đồng lao động có thời hạn là 2 năm. Tuy nhiên, việc giao kết hợp đồng lao động này giữa anh với công ty mỹ phẩm A là không đúng quy định của pháp luật. Bởi vì theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật lao động 2012 đã quy định:

“Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn”

       Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật thì hợp đồng lao động xác định thời hạn chỉ được ký thêm một lần sau khi hợp đồng lao động xác định thời hạn cũ đã hết hạn. Tuy nhiên, trong trường hợp này giữa anh và công ty mỹ phẩm A đã giao kết tổng là 3 hợp đồng lao động có xác định thời hạn, do đó nó không phù hợp với quy định của pháp luât.Tức là hợp đồng lao động thứ 3 mà công ty ký với anh phải là hợp đồng không xác định thời hạn.

loại hợp đồng lao động
loại hợp đồng lao động

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT 24H : 19006184

2. Giải quyết quyền lợi cho anh

“Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

      Căn cứ vào dữ liệu mà anh cung cấp thì trường hợp anh đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật:

Thứ nhất, anh đã làm việc tại công ty mỹ phẩm A từ năm 2008 đến nay như vậy anh đã đáp ứng yêu cầu là người lao động muốn được hưởng trợ cấp thôi việc phải làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên.

Thứ hai, căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động của anh thuộc khoản 3 Điều 36 Bộ luật lao động (hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động). Đây là trường hợp mà theo Điều 48 Bộ luật lao động, người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

  • Mức trợ cấp thôi việc mà anh được hưởng sẽ căn cứ vào thời gian anh làm việc tại công ty và tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động. Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP đã có những hướng dẫn cụ thể về những vấn đề này:

+Về thời gian để tính trợ cấp:

“Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc”.

+Về tiền lương để tính trợ cấp: tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Mức trợ cấp = thời gian là việc cho công ty × tiền lương bình quân × 1/2

      Như vây, trường hợp của anh sẽ được giải quyết như sau: Do từ ngày 1/1/2009 theo quy định của pháp luật, anh là đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp( theo quy định tại Điều 43 Luật việc làm 2013) nên thời gian anh được hưởng trợ cấp thôi việc sẽ trừ đi thời gian anh đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Công ty A có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho anh trong thời gian anh làm việc tai công ty sau khi trừ đi thời gian anh đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

       Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi đối với vấn đề xác định loại hợp đồng và điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc của anh. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, anh vui lòng liên hệ  Tổng đài tư vấn pháp luật 24h : 19006184 để được hỗ trợ kịp thời.


Bài viết liên quan:

Công ty chấm dứt hợp đồng vì lý do thay đổi cơ cấu công nghệ 

Ký hợp đồng lao động 2 lần theo nguyện vọng của người lao động

Tiền trượt giá khi đánh bảo hiểm xã hội 1 lần