PHÂN CHIA TÀI SẢN LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI VỢ CHỈ Ở NHÀ 

0
76

Hỏi:

Sau khi kết hôn, người chồng đi làm ở công ty bên ngoài, người vợ chỉ ở nhà thì sau khi ly hôn người vợ có được phân chia tài sản?

Phân chia tài sản ly hôn trong trường hợp vợ chỉ ở nhà


Cơ sở pháp lý:

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014


    

phân chia tài sản ly hôn
phân chia tài sản ly hôn

 Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho Tổng đài tư vấn Về vấn đề phân chia tài sản ly hôn trong trường hợp vợ chỉ ở nhà của bạn chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau: 

1. Xác định loại tài sản là tài sản chung của vợ chồng ?

a. Tài sản chung của vợ chồng được xác lập theo thỏa thuận

     Tài sản chung của vợ và chồng được xác lập theo thỏa luận tức là dựa trên ý chí tự nguyện, mong muốn đóng góp tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản khác nhưng được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung của vợ chồng.

    Tài sản chung của vợ chồng dựa trên thỏa thuận có thể là:

  • Là tài sản chung của vợ và tài sản chung của chồng trước hôn nhân và được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
  • Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân và được vợ chồng thỏa thuận là thuộc tài sản chung của vợ chồng;
  • Tài sản của vợ hoặc chồng được tặng, cho… trong thời kỳ hôn nhân nhưng được vợ và chồng thỏa thuận là tài sản chung của vợ chồng;
  • Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng nhưng được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung….
  • Các loại tài sản khác.

    Như vậy, tài sản được xác định tài sản chung của vợ chồng rất đa dạng và phong phú. Các cặp vợ chồng có thể thỏa thuận việc xác định tài sản chung, tài sản riêng khác phù hợp với quy định của pháp luật.

b. Tài sản chung của vợ chồng được xác lập theo quy định của pháp luật.

    Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

     Như vậy, tài sản chung cơ bản nhất của vợ chồng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, sản xuất, kinh doanh… nhằm đóng góp vào khối tài sản chung của vợ chồng, được cả hai thỏa thuận, đồng ý là tài sản chung của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng còn là tài sản mà vợ chồng được tặng cho, thừa kế chung từ ông bà, cha mẹ, bạn bè… mà cả vợ chồng là những chủ thể đứng tên trong bản di chúc.  Và những tài sản khác được xác định là tài sản chung của vợ chồng.

    Đối với tài sản là quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn, tạo lập và hình thành trong thời kỳ hôn nhân được pháp luật quy định là tài sản chung của vợ chồng; trừ trường hợp vợ chồng thừa kế riêng, được tặng cho riêng hay bằng tài sản của người đó xác lập, giao dịch mua bán mà có được.

    Việc xác định tài sản chung khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng được quy định thêm tại Điều 9 NĐ 126/2014 NĐ-CP như sau:

  1. Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định này.
  2. Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.
  3. Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

    Như vậy, pháp luật đã quy định rất chi tiết và cụ thể các trường hợp tài sản sẽ là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài các liệt kê như trên thì tài sản chung của vợ chồng còn là các khoản thu nhập khác phù hợp theo quy định của pháp luật.

phân chia tài sản ly hôn
phân chia tài sản ly hôn

Tổng đài tư vấn pháp luật 24H : 19006184

2. Phân chia tài sản khi vợ chồng ly hôn trong trường hợp người vợ chỉ ở nhà

     Về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn,  tại khoản 1, khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, …

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;….”

    Như vậy, theo quy định của pháp luật, tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn sẽ được phân chia theo thỏa thuận của các bên, pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền lợi, ý chí của hai bên . Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật để phân chia tài sản cho vợ chồng đó.

    Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp hiện nay, việc giữa vợ hoặc chồng thỏa thuận với nhau việc  chỉ vợ hoặc chồng đi làm và người còn lại ở nhà chăm sóc con cái ( thường là người vợ sẽ ở nhà chăm sóc con và người chồng sẽ đi làm) thì sau khi ly hôn, xác định mức độ đóng góp tài chính của vợ hoặc chồng là khó khăn, do đó việc phân chia tài sản xảy ra tranh cãi, mâu thuẫn, không thống nhất được với nhau. Trong trường hợp này, Công ty tư vấn cho bạn như sau: 

Thứ nhất: Theo quy định của pháp luật thì “Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi”

Thứ hai:   Việc phân chia dựa vào thêm căn cứ  “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”

    Thứ ba: Người vợ ( hoặc chồng) tuy không tham gia vào việc xác lập khối tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân nhưng mặt khác họ lại có đóng góp khi bỏ thời gian, sức lực của mình vào việc chăm sóc gia đình, giáo dục con cái, chăm lo việc nhà để cho người chồng của mình yên tâm đi làm. Sức lao động của người vợ tuy không được hiện hữu bằng số tiền cụ thể như người chồng đi làm nhưng so với người chồng, công sức mà chị vợ bỏ ra để chăm sóc gia đình, chăm lo cho con cái là điều rất quý giá, khó mà quy ra thành tiền. Nếu có quy ra được, ắt hẳn đó cũng là một số tiền không hề nhỏ đóng góp cho gia đình.

    Căn cứ vào ba điều như trên, Công ty Luật chúng tôi thiết nghĩ, khi phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn mà có một bên vợ hoặc chồng ở nhà thì theo nguyên tắc nên chia đôi khối tài sản ra. Trừ trường hợp xác định được mức độ đóng góp vào khối tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân quá chênh lệch nhau; hoặc xác định mức độ lỗi của mỗi bên trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng thì mới nên xác định một mức độ phân chia khác phù hợp.

    Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi đối với câu hỏi vấn đề phân chia tài sản ly hôn trong trường hợp vợ chỉ ở nhà của bạn. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ  Tổng đài tư vấn pháp luật 24h : 19006184 để được giải đáp.


Bài viết liên quan:

  • Thủ tục ly hôn và vấn đề nuôi con, chia tài sản sau ly hôn
  • Quyền trực tiếp nuôi con khi ly hôn theo quy định
  • Đơn phương ly hôn và giành quyền nuôi con