Đồng phạm trong vụ án trộm cắp tài sản – Luật Quang Huy

0
234

A, B (cùng 17 tuổi) bàn nhau vào nhà C lấy tài sản. A đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm cộng lực phá khóa và vào nhà C lấy tài sản. Khi B dắt chiếc xe máy của C ra khỏi cổng (chiếc xe trị giá 30 triệu đồng), thì bị T (hàng xóm nhà C) bắt giữ. B lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi bỏ chạy. Anh T sau đó đã tử vong. Hành vi của B cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS.A có bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Tại sao?

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chúng tôi Luật Quang Huy, về vấn đề Đồng phạm trong vụ án trộm cắp tài sản. chúng tôi xin trả lời câu hỏi  của bạn như sau:


Cơ sở pháp lý:


Đồng phạm trong cụ án trộm cắp tài sản

Quy định về đồng phạm trong BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017

     Khái niệm đồng phạm và thành phần đồng phạm được quy định cụ thể tại Khoản 1 và 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015:

“1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.”

     Quyết định hình phạt trong trường hợp Đồng phạm phải tuân thủ theo nguyên tắc: “Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

     Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.”

Đồng phạm
Đồng phạm

Xác định đồng phạm trong trường hợp trộm cắp tài sản. 

     Để có thể là đồng phạm thì A và B phải thỏa mãn các dấu hiệu của đồng phạm.

     Thứ nhất để có thể là đồng phạm thì A và B cần đáp ứng những được những dấu hiệu của khách quan là đủ 2 hai người trở lên và có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm là có năng lực TNHS. Ta dễ dàng nhận thấy A và B thỏa mãn điều kiện đủ 2 người trở lên và A, B 17 tuổi đã có NLTNHS nhưng chưa có đầy đủ.

     Bên cạnh đó căn cứ vào tính liên kết hành vi thì A và B phải cùng thực hiện 1 tội phạm: Hành vi của người đồng phạm này phải có sự liên kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia. Hành vi của A và B cũng phải hướng đến một tội phạm là tội giết người, phải tạo điều kiện, hành vi của A phải hỗ trợ cho B để thực hiện hành vi giết người một cách thuận lợi, nói cách khác hành vi của A phải là tiền đề cho hành vi của B. Tuy nhiên hành vi của A chỉ giúp sức cho B để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứ không tạo điều kiện giúp cho B hoàn thành hành vi giết người của mình và không có sự liên kết thống nhất với hành vi giết người của B.

     Căn cứ vào hậu quả tác hại: Hậu quả do tội phạm gây ra trong vụ án giết người này không phải là hậu quả chung do toàn bộ những hành vi của A và B gây ra.

     Thứ hai để có thể là đồng phạm thì A và B phải thỏa mãn được các dấu hiệu của mặt chủ quan. Theo khái niệm đồng phạm thì A và B phải đều có lỗi cố ý và có cùng mục đích.

     Về mặt lỗi: Khi thực hiện hành vi giết người- nguy hiểm cho xã hội, A và B không chỉ cố ý về hành vi của mình mà còn phải có sự mong muốn tham gia sự tham gia của những người đồng phạm. Tuy nhiên A và B không có chung lỗi trong vụ giết người, A và B chỉ đồng phạm trong vụ trộm tài sản của ông T.

     Về lý trí: ( khả năng nhận thức) Để có thể là đồng phạm thì A phải nhận thức được hành vi của mình và hành vi của B là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước được hậu quả cho hành vi của mình và B gây ra. Tuy nhiên A không biết về hành vi giết người của B- hành vi nguy hiểm cho xã hội, ban đầu A và B chỉ có sự thỏa thuận với nhau về việc trộm cắp tài sản.

     Về ý chí: Nếu A là đồng phạm của B thì A phải có mong muốn có hành động chung là giết người cụ thể là ông T. Tuy nhiên thì A chỉ có mong muốn trộm thành công tài sản của ông C, mà A không hề có hành động chung với B để giết ông T.

     Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi đối với câu hỏi trách nhiệm hình sự đối với người mất năng lực trách nhiệm hình sự. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật hình sự qua HOTLINE 19006184 của Luật Quang Huy để được giải đáp.


 Bạn có thể tham khảo :