Điểm mới về chế định chuẩn bị phạm tội theo BLHS 2015

0
67

Điểm mới về chế định chuẩn bị phạm tội quy định tại BLHS 2015

Hỏi. Chế định chuẩn bị phạm tội được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có gì khác so với chế định chuẩn bị phạm tội được quy định tại Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009?


Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Về vấn đề điểm mới chế định chuẩn bị phạm tội theo Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 của bạn chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Chế định chuẩn bị phạm tội theo Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 được quy định cụ thể tại Điều 17: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.

Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện.”

Chế định chuẩn bị phạm tội theo Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 được quy định cụ thể tại Điều 14: “1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

  1. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
  2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.”;

 Và Điều 57: “Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

  1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.
  2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.
  3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.”

Như vậy, khái niệm về chuẩn bị phạm tội đã bổ sung hành vi “thành lập tham gia nhóm tội phạm, trừ quy định tại Điều 109” (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân); điểm a khoản 2 Điều 113 “Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố” (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân); điểm a khoản 2 Điều 299 “Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố” (tội khủng bố).

Khoản 2 Điều 14 đã liệt kê ra các tội phạm cụ thể mà hành vi chuẩn bị phạm tội đủ để cấu thành tội phạm, người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có hành vi chuẩn bị phạm một trong các tội này. Như vây, khoản 2 của điều luật đã đã có sửa đổi theo hướng thu hẹp phạm vi phải chịu trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội.

Khoản 3 của điều luật này quy định: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nếu chuẩn bị phạm các tội giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, chỉ người nào chuẩn bị phạm các tội nêu trên thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự và chỉ có điều luật nào quy định một khung hình phạt riêng dành cho trường hợp chuẩn bị phạm tội thì mới được áp dụng.

Về lý luận, chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, nhưng ở giai đoạn này người phạm tội chưa thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, tức là chưa có hành vi xâm phạm đến đối tượng tác động. Ví dụ: A chuẩn bị dao để tìm giết B nhưng bị em của A phát hiện nên A không thực hiện hành vi giết B.

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT 24H : 19006184

Hành vi chuẩn bị phạm tội thường được thể hiện dưới các dạng như sau:

– Chuẩn bị kế hoạch phạm tội như: bàn bạc, phân công trách nhiệm cho từng người, kế hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm… Dạng chuẩn bị phạm tội này thường xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng phạm hoặc có tổ chức. Tuy nhiên, cũng có trường hợp tội phạm chỉ do một người thực hiện vẫn có sự chuẩn bị kế hoạch phạm tội. Ví dụ: A có ý định đầu độc B, tự A đã vạch ra một kế hoạch như mua thuốc độc ở đâu, bỏ thuốc độc vào nước cho B uống như thế nào, sau khi B bị trúng độc thì làm thế nào để che giấu được tội phạm,…

– Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội, dạng chuẩn bị này chủ yếu đối với các tội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân. Ví dụ: A muốn cướp tài sản tại nhà B, nên A đã nhiều lần đến nhà B thăm dò xem quy luật sinh hoạt của gia đình ra sao để tiến hành cướp tài sản.

– Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội như: chuẩn bị xe máy để đi cướp tài sản, chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc nổ để hủy hoại tài sản, chuẩn bị xăng để đốt nhà, chuẩn bị thuốc mê để cho người có tài sản uống nhằm chiếm đoạt tài sản của họ…

– Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi, dễ dàng như cho các con đi nghỉ mát để ở nhà giết vợ được dễ dàng.

Như vậy, chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra tiền đề (điều kiện) cần thiết cho việc thực hiện tội phạm.

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi đối với câu hỏi của bạn. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ  Tổng đài tư vấn pháp luật 24h : 19006184 để được giải đáp.