DẤU HIỆU CẤU THÀNH TỘI VU KHỐNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

0
46

Hỏi: Chào luật sư, xin luật sư cho tôi biết nếu dấu hiệu cấu thành tội vu khống theo quy định của pháp luật.

Dấu hiệu cấu thành tội vu khống theo quy định của pháp luật


Cơ sở pháp lý:

  • Bộ luật hình sự năm 2015

TỘI VU KHỐNG
TỘI VU KHỐNG

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Về vấn đề của bạn chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

     1. Tội vu khống

Tội vu khống được quy định tại Điều 156 BLHS 2015 như sau:

     “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

     a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

     b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

     2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

     a) Có tổ chức;

     b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

     c) Đối với 02 người trở lên;

     d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

     đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

     e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

     g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

     h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

     3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

     a) Vì động cơ đê hèn;

     b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

     c) Làm nạn nhân tự sát.

     Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Tội vu khống
Tội vu khống

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN HÌNH SỰ 24H : 19006184

     1.1. Khách thể của tội vu khống

     Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm phạm. Đối với tội vu khống xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm của con người.

     1.2.Mặt khách quan của tội vu khống

     Người phạm tội vu khống thực hiện một trong những hành vi khách quan sau:

  -Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

      Ví dụ: A đã bịa đặt và loạn tin rằng B không chồng mà có thai vì lăng nhăng với người lớn tuổi và đã có vợ. Điều này đã xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của B.

     – Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

     Ví dụ: như tình huống mà bạn hỏi chúng tôi ở phía trên thì giả sử Tòa án tuyên vô tội đối với bạn thì có thể coi người kia đã bịa đặt hành vi lừa đảo của bạn nên cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống.

     1.3.Chủ thể của tội vu khống

     Thứ nhất, Chủ thể của tội vu khống là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nghĩa là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội người đó có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và có khả năng điều khiển được hành vi ấy.

     Thứ hai, phải đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

     Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được chia như sau:

     + Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ các quy định khác.

     + Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304. (Điều 12 sửa đổi, bổ sung năm 2017)

     Do đó, đối với tội vu khống thì người phạm tội phải đặt từ đủ 16 tuổi trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

     1.4.Mặt chủ quan của tội vu khống

     Mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, mục đích và động cơ. Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn gắn liền với các biểu hiện bên ngoài. Do đó, các hành vi bịa đặt, loan truyền những điều sai sự thật; bịa đặt người khác phạm là biểu hiện của lỗi cố ý, dù người phạm tội nhận thức được hành vi đó là trái pháp luật nhưng người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó.

     Mục đích nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, hoặc là để tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Nếu như việc bịa đặt, loan truyền những điều sai sự thật đó không nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác mà chỉ là câu nói đùa, nói trêu thì lúc này sẽ không cấu thành tội vu khống.

     2. Hình phạt của tội vu khống

  • Khung hình phạt cơ bản: phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
  • Khung hình phạt tăng nặng: Tùy vào khung hình phạt quy định tại khoản 2, 3 sẽ có các mức hình phạt tương ứng là 01 năm đến 03 năm tù; 03 năm đến 07 năm tù.
  • Người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung: bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

     Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi đối với câu hỏi của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng liên hệ  Tổng đài tư vấn pháp luật 24h : 19006184 để được hỗ trợ kịp thời.


     Bài viết liên quan: