Lý luận về tư bản cố định và tư bản lưu động của C. Mác và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay

      Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chứng giữa quá trình sản xuất và quá trình lưu thông. Lưu thông của tư bản. thoe nghĩa rộng, là sự vận động của tư bản, nhờ đó mà tư bản lớn lên và thu được giá trị thặng dư, cũng tức là sự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản.

      Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển giống nhau. Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau của từng bộ phận tư bản, người ta chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động.

      Để làm rõ vấn đề trên, em xin lựa chọn đề tài: “ Lý luận về tư bản cố định và tư bản lưu động của C. Mác và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay”.


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin

       Trong quá trình sản xuất của tư bản, các bộ phận tư bản chu chuyển không giống nhau. Căn cứ vào tính chất chuyển giá trị của các bộ phận tư bản vào trong sản phẩm mới mà C.Mác chia tư bản thành hai bộ phận chính là tư bản cố định và tư bản lưu động.

       Tư bản cố định còn được gọi là vốn cố định, tài sản cố định.

       Tư bản lưu động còn được gọi là vốn lưu động, tài sản lưu động.

Tư bản cố định

  • Khái niệm

       Tư bản cố định là bộ phận tư bản tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng… về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra.

  • Đặc điểm

       Tư bản cố định tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh, không thay đổi hình thái vật chất. Với đặc điểm này, các doanh nghiệp chỉ cần bỏ vốn ban đầu để đầu tư hình thành nên tư bản cố định, sau đó có thể khai thác sử dụng tư bản cố định trong thời gian dài. Để quản lý tư bản cố định, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra tình trạng sử dụng của tài sản. Điều này không có nghĩa là không chỉ quản lý, giữ gìn về mặt vật chất của nó mà còn phải duy trì khả năng hoạt động bình thường của tài sản do đó phải thường xuyên bảo dưỡng, thay thế sửa chữa những bộ phận hư hỏng để đạt hiệu suất sử dụng tối đa.

       Có hai loại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.

       Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về cơ học có thể nhận thấy. Hao mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải được thay thế.

       Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy về mặt giá trị. Hao mòn vô hình xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc có giá trị tương đương, nhưng công suất cao hơn. Để tránh hao mòn vô hình, các nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca kíp làm việc,…

       Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, những máy móc, thiết bị được sản xuất ra có giá cả thấp hơn và có hiệu suất lớn hơn, làm cho những máy móc, thiết bị cũ giảm giá trị ngay khi giá trị sử dụng của nó vẫn còn nguyên vẹn hoặc mới suy giảm một phần.

       Bởi vậy, việc thu hồi nhanh giá trị tư bản cố định có ý nghĩa rất quan trọng trong cạnh tranh trên thương trường. Trong điều kiện đó, buộc các nhà tư bản phải tìm mọi cách để khấu hao nhanh tư bản cố định. Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định thường được tính rất cao ngay từ những năm đầu chế tạo sản phẩm, lợi dụng giá sản phẩm cao của đầu chu kỳ sản phẩm, sau đó giảm dần tỷ lệ khấu hao cùng với việc giảm giá sản phẩm ở cuối chu kỳ của nó. Quy mô sản lượng ban đầu càng lớn càng có lợi cho việc thu hồi giá trị tư bản cố định. Những yêu cầu đó không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách dễ dàng.

       Bởi vậy, các nhà tư bản, một mặt, tìm cách phát triển hệ thống tự động hoá linh hoạt, cùng với những máy móc thiết bị tương ứng để có thể tạo ra nhiều dạng sản phẩm hoặc những sản phẩm chuyên môn hoá theo các đơn đặt hàng khác nhau; mặt khác, phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ để dễ dàng đổi mới tư bản cố định trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và cạnh tranh gay gắt. Đồng thời, các nhà tư bản vẫn tiếp tục sử dụng những biện pháp cổ điển như tăng cường độ lao động, tổ chức lao động theo ca kíp, tiết kiệm chi phí bảo quản và chi phí cải thiện điều kiện lao động của người công nhân. Bằng cách đó nhằm thu hồi nhanh giá trị tài sản cố định đã sử dụng và góp phần rút ngắn khoảng cách lạc hậu về các thế hệ kỹ thuật và công nghệ.

       Do vậy, ta có thể thấy, tư bản cố định tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh và luân chuyển dần dần từng phần vào trong giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mỗi chu kỳ kinh doanh. Hay nói cách khác, cứ sau mỗi chu kỳ kinh doanh vốn cố định được tách thành hai phần: một phần chuyển vào giá thành kinh doanh của chu kỳ kinh doanh này, và phần còn lại sẽ được cố định chờ để luân chuyển cho các chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Cứ như thế cho đến khi nào tư bản cố định hết thời gian sử dụng thì vốn cố định mới chấm dứt một vòng tuần hoàn lưu chuyển giá trị.


Tư bản lưu động

  • Khái niệm

       Tư bản lưu động là bộ phân tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao động,… giá trị của nó lưu thông toàn bộ cùng với sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất.

  • Đặc điểm

       Tư bản lưu động là biểu hiện bằng tiền về toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp để phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Khi tham gia vào kinh doanh, tài sản lưu động luôn vận hành, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau qua các công đoạn của quá trình kinh doanh.
  • Chỉ tham gia vào một chu kỳ kinh doanh. Với đặc điểm này, dòi hỏi đoanh nghiệp luôn phải duy trì một khối lượng vốn lưu động nhất định để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh tiến hành liên tục.

       Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước; mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm tăng lên.

       Việc đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động sẽ góp phần tăng hiệu quả sử dụng của vốn tư bản, tiết kiệm tư bản ứng trước, đồng thời tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư cho nhà tư bản.


So sánh tư bản cố định và tư bản lưu động

       Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động chỉ diễn ra đối với tư bản sản xuất, căn cứ tính chất chuyển giá trị vào trong sản phẩm mới. Tư bản cố định chuyển giá trị dần dần, từng phần một vào trong sản phẩm mới, tư bản lưu động chuyển giá trị ngay một lần và toàn bộ vào trong sản phẩm mới sau quá trình sản xuất. Sự phân chia này giúp chúng ta thấy được quá trình chuyển giá trị của tư bản cố định và tư bản lưu động vào trong sản phẩm mới như thế nào, đồng thời có căn cứ để tính toán chi phí sản xuất.

Tư bản cố địnhTư bản lưu động
Không thay đổi hình thái tồn tại trong quá trình kinh doanhCó sự chuyển hóa về hình thức tồn tại qua các công đoạn của quá trình kinh doanh
Tham gia nhiều chu kỳ kinh doanhVề cơ bản, chỉ tham gia một chu kỳ kinh doanh
Luân chuyển giá trị dần từng phần vào trong giá trị sản phẩm mới dưới hình thức khấu hao tài sản cố địnhLuân chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần vào giá trị sản phẩm mới
Thường chiếm tỷ lệ cao hơn so với tư bản lưu độngThường chiếm tỉ lệ thấp hơn so với tư bản cố định
Tốc độ chu chuyển chạm hơn so với tư bản lưu độngTốc độ chu chuyển nhanh hơn so với tư bản cố định

Ý nghĩa

       Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động chỉ diễn ra đối với tư bản sản xuất, căn cứ vào tính chất chuyển giá trị vào trong sản phẩm mới. Tuy sự phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động thật sự chưa làm rõ bản chất bóc lột của tư bản nhưng có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp trong việc bảo tồn và tái sản xuất tư bản cố định và lưu động, xác định đúng những chi phí hình thành sản xuất hàng hóa. Trong quản lý kinh tế và trong sản xuất, doanh nghiệp cần có cách thức tác động phù hợp với tính chất vận động của từng loại tư bản để nâng cao hệ số sử dụng của tư bản.

       Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn vô hình gây ra. Nhờ đó mà có điều kiện đổi mới thiết bị, nhanh tiếp cận được thành tựu mới của khoa học, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động.

       Việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ chu chuyển tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước, mặt khác, tăng tốc độ chu chuyển tư bản lưu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm tăng lên.


Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam hiện nay

      Tư bản cố định về hình thái

      Căn cứ vào hình thái vật chất

  • Tư bản cố định hữu hình là những tài sản có hình dáng vạt chất cụ thể như công trình kiến trúc, trang thiết bị, phương tiện vận tải…
  • Tư bản cố định vô hình là dạng tài sản không có hình dáng vật chất cụ thể như là bằng phát minh sáng chế, chi phí đầu tư mua bản quyền, phần mền vi tính, văn hóa doanh nghiệp, thương hiệu,…

Căn cứ vào quyền sở hữu

  • Tư bản cố định do doanh nghiệp sở hữu là tài sản cố định mua bằng vốn của mình, vốn vay hoặc do được biếu tặng những tài sản này giúp doanh nghiệp chủ động trong hoạt động kinh doanh.
  • Tư bản cố định thuê ngoài là những tài sản chỉ được sử dụng trong một thời gian nhất định, bao gồm:

       Tài sản cố định thuê hoạt động có đặc điểm hết thời hạn thuê hoàn trả tài sản cho người chủ, người thuê chịu các chi phí thuê còn khấu hao tài sản do chủ tài sản thực hiện

       Tài sản cố định thuê tài chính có đặc điểm: thời hạn thuê tối thiểu >60% tuổi thọ tài sản thuê, số tiền thuê tài sản thấp nhất bằng giá trị tài sản thuê, người thuê được quyền mua lại tài sản thuê với giá thấp hơn giá trị còn lại của tài sản

       Căn cứ vào tình trạng sử dụng

  • Tư bản cố định đang được khai thác sử dụng là những tài sản trực tiếp làm tăng năng suất, năng lực hoạt động của doanh nghiệp.
  • Tư bản cố định chờ thanh lý là những tài sản hư hỏng, tài sản lạc hậu về công nghệ kỹ thuật, tài sản không tương thích.

Căn cứ vào công dụng

  • Tư bản cố định dùng trực tiếp cho khâu sản xuất
  • Tư bản cố định dùng cho công tác quản lý
  • Tư bản cố định dùng khâu tiêu thụ hàng hóa
  • Tư bản cố định dùng cho hoạt động phúc lợi
    • Về giá trị

       Phương pháp quản lý này gắn liền công việc tính khấu hao tài sản cố định và quản lý, sử dụng khấu hao của doanh nghiệp. Khi tham gia vào hoạt động kinh doanh tư bản cố định bị hao mòn là một vấn đề mang tính tất yếu khách quan. Trong quá trình quản lý và sử dụng tư bản cố định, để tái tạo tư bản cố định doanh nghiệp phải tiến hành khấu hao tư bản cố định.

       Khấu hao tư bản cố định là sự tính toán số tiền biểu hiện mức hao mòn tư bản cố định. Số tiền khấu hao tài sản là một yếu tố của chi phí kinh doanh và được bù đắp khi doanh nghiệp có thu nhập. Số tiền khấu hao được doanh nghiệp trích lại để hình thành quỹ khấu hao nhằm tái tạo tư bản cố định. Cũng cần thấy rằng khả năng tái tạo tư bản cố định từ quỹ khấu hao phụ thuộc rất lớn vào mức độ chính xác của việc tính toán mức khấu hao tài sản. Số tiền khấu hao tích lũy được sau khi tư bản cố định hoàn thành một vòng tuần hoàn mà không đủ để tái tạo tư bản cố định, thì hậu quả là tư bản cố định của doanh nghiệp không được bảo toàn.

       Do vậy, muốn thực hiện bảo toàn tư bản cố định của doanh nghiệp một trong những biện pháp quan trọng đó là doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp tính khấu hao thích hợp để sao cho vừa phản ánh đúng mức hao mòn hữu hình, vừa khắc phục được sự mất giá do hao mòn vô hình gây ra.

  • Tư bản lưu động
    • Phân loại

       Để quản lý về hiện vật, doanh nghiệp cần tiến hành phân loại tư bản lưu động, từ đó đưa ra những cách thức quản lý sao cho có hiệu quả. Thực tế có các cách phân loại tư bản lưu động cơ bản như sau:

       Căn cứ vào hình thái biểu hiện

  • Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền tạm ứng, tiền trong thanh toán…
  • Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm…

      Căn cứ vào công dụng

  • Tư bản lưu động dự trữ kinh doanh: nguyên vật liệu, công cụ lao động, phụ tình thay thế.
  • Tư bản lưu động trong sản xuất: sản phẩm sở dang, bán thành phẩm, chi phí trả trước…
  • Tư bản lưu động trong lưu thông: thành phẩm, hàng hóa, các khoản thế chấp, các khoản tiền tạm ứng trong thanh toán…
    • Cách thức quản lý

       Quản lý vốn bằng tiền

       Trong quá trình kinh doanh, hằng ngày các doanh nghiệp luôn phải duy trì một lượng tư bản bằng tiền mặt nhất định, với mục đích:

  • Thỏa mãn nhu cầu giao dịch, mua sắm nguyên vật liệu
  • Thực hiện các hoạt động đầu tư
  • Dự phòng để đối phó với những trường hợp phát sinh đột xuất mà doanh nghiệp không lương trước.

       Như vậy, vốn bằng tiền trở thành yếu tố quan trọng không kém gì so với các yếu tố khác trong kinh doanh( vật liệu, hàng hóa,…) và trong nhiều khi là tiền đề có các yếu tố đó. Do vậy, doanh nghiệp cần phải có kế hoạch tài chính để xác định nhu cầu vốn bằng tiền phục vụ cho kinh doanh hằng tháng, thậm chí hằng tuần.

       Quản lý các khoản phải thu

       Đây là số vốn của doanh nghiệp nhưng bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng, và do vậy, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu số vốn này chiếm dụng ở mức độ lớn, thì doanh nghiệp sẽ thiếu vốn bằng tiền để phục vụ kinh doanh. Vì thế, doanh nghiệp phải có những biện pháp để giảm thấp các hệ số chiếm dụng vốn, rút ngắn kỳ thu tiền bình quân trên cơ sở áp dụng các phương thức thanh toán sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp, đồng thời linh hoạt trong đàm phsan để thu hồi nợ một cách nhanh nhất.

       Quản lý hàng tồn kho

      Tùy theo tính chất của từng loại hàng hóa tồn kho mà doanh nghiệp có biện pháp quản lý cho thích hợp.

      Đối với nguyên vật liệu, công cụ lao động, hàng hóa: để thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thường phải hình thành một mức dự trữ thường xuyên về nguyên vật liệu, công cụ lao động, hàng hóa ở mức tối thiểu cần thiết tương ứng với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn cần thiết để đầu tư hình thành nên những loại tài sản này tối thiểu thường xuyên cần thiết tương đương với quy mô nhất định.

      Đối với thành phẩm: nếu quản lý số vốn này không tốt thì tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, gây tác động tiêu cực đến tốc độ luân chuyển và tình hình sử dụng vốn ở các khâu trước. Do vậy, doanh nghiệp cần phải thường xuyên kiểm tra tình hình tiêu thụ, tồn kho thành phẩm, khả năng chi trả của người mua, giám sát những người chi trả không đúng hạn để tốc độ lưu chuyển vốn ở khâu này nói riêng và tốc độ lưu chuyển toàn doanh nghiệp nói chung.

      Việc phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động mặc dù không chỉ ra được nguồn gốc của giá trị thặng dư nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức quản lý sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản.


       Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Lý luận về tư bản cố định và tư bản lưu động của C. Mác và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

      Trân trọng./.


 

RELATED ARTICLES
- Advertisment -

Bài viết xem nhiều

Recent Comments

phone-call