Lý luận về giá trị hàng hóa sức lao động của C. Mác và sự vận dụng lý luận này trong vấn đề tiền công ở Việt Nam hiện nay

      Tiền công, tiền lương luôn là vấn đề cấp thiết đối với người lao động từ trước cho đến nay. Sức lao động được coi là một hàng hóa đặc biệt, tiền lương được coi là mức giá của sức lao động và được quyết định bởi sự thỏa thuận giữa hai bên. Một chế định tiền lương thích hợp sẽ tạo ra động lực lớn kích thích người lao động hăng say sáng tạo và cống hiến nhiều hơn cho xã hội, từ đó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề sức lao động, em xin chọn đề tài “Lý luận về giá trị hàng hóa sức lao động của C. Mác và sự vận dụng lý luận này trong vấn đề tiền công ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài cho bài tập học kỳ.


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2012
  • Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Mác Lênin, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2007
  • Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004

Chương 1: Lý luận của C. Mác về giá trị hàng hóa sức lao động trong chủ nghĩa tư bản

Hàng hóa sức lao động

Sức lao động và hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

       Theo C. Mác “ Sức lao động , đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích “

       Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây:

       Thứ nhất : người có sức lao động phải được tự do về thân thể , làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa .

       Thứ hai : người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để tồn  tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống .

        Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định ,để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển tới một mức độ nhất định

       Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

        Cũng giống như mọi hàng hóa khác , hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính là :giá trị và giá trị sử dụng .

        Giá trị hàng hóa sức lao động :Cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định . Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người. Muốn tái sản xuất ra năng lực đó ,người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn mặc ở , học nghề ., do đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hóa sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành :

       Một là , giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động , duy trì đời sống của bản thân người công nhân.

       Hai là phí tổn đào tạo người công nhân

       Ba là , giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thân cần thiết cho con cái người công nhân .

       Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động : Hàng hóa sức lao động không chỉ có giá trị mà còn có giá trị sử dụng như bất kỳ một loại hàng hóa thông thường nào . Nó chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động ..Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt .Như vậy giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt , nó là nguồn gốc sinh ra giá trị , tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó .

Tiền công trong chủ nghĩa tư bản

         Bản chất kinh tế của tiền công

       Biểu hiện bên ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho  nhà tư bản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào đó thì nhà tư bản cho công nhân một số tiền nhất định gọi là tiền công. Sở dĩ như vậy là vì:

       Nếu lao động là hàng hóa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong có một hình thức cụ thể nào đó. Tiền đề để cho người lao động vật hóa được là phải có tư liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do mình sản xuất ra, chứ không phải “ lao động”.

       Việc thừa nhận lao động là hàng hóa dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận sau đây:

       Thứ nhất, nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản không thu được lợi nhuận ( giá trị thặng dư); điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản.

       Thứ hai, còn nếu “ hàng hóa lao động “ được trao đổi không ngang gía để có giá trị thăng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị.

Lý luận về giá trị hàng hóa sức lao động của C. Mác và sự vận dụng lý luận này trong vấn đề tiền công ở Việt Nam hiện nay

        Lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động. Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động.

       Vâỵ, bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao đông, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động.

        Hai hình thức trả công

       Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm.

       Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân ( giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn.

       Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành.

       Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định. Đơn giá tiền công được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trung bình của công nhân trong ngày với số lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm. Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức biến tướng của tiền công tính theo thời gian.

       Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế

       Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế.

       Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình.

       Tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xống tùy theo sự biến động quan hệ cung – cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường. Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa không thay đổi, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hoặc giảm xuống, thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống hay tăng lên.

Chương 2: Cải cách chính sách tiền công( tiền lương) ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, nguyên nhân và một số phương hướng cơ bản.

Thực trạng cải cách chính sách tiền công ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân

       Quá trình cải cách chính sách tiền công ở nước ta những năm gần đây – những kết quả đạt được

         Trong những năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế của nước ta đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động. Hiện nay mức lương tối thiểu so với các năm trước đây có thay đổi đáng kể ( Phụ  lục 1 ) cụ thể ở vùng 1 năm 2018  là 3.980.000 đồng / tháng. Năm 2017 là 3.750.000 đồng/tháng và  năm 2016 là 3.500.000 đồng /tháng.Mức lương tối thiểu vùng hiện nay cao hơn so với các năm trước đây khoảng 250.000 – 500.000đồng /tháng.

       Trải qua nhiều năm thực hiện cải cách chính sách tiền lương và các chính sách liên quan nước ta cũng có những thành tựu và kết quả nhất định đó là :

         Mở đầu cho chuyển đổi chính sách tiền lương và các chính sách có liên quan sang cơ chế thị trường; tính đúng, tính đủ tiền lương, xóa bỏ bao cấp, đặc biệt đối với lao động trong khu vực sản xuất, kinh doanh;

         Cơ chế quản lí tiền lương có nhiều thay đổi phù hợp với cơ chế thị trường cơ chế quản lý tiền lương

        Là bước quan trọng tách bạch tiền lương giữa khu vực sản xuất, kinh doanh với khu vực hưởng lương từ ngân sách, giao nhiều quyền chủ động về tiền lương cho doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập có thu, giảm bớt mức độ can thiệp cụ thể, trực tiếp của Nhà nước đối với khu vực này;

          Hình thành hai trụ cột chính của an sinh xã hội là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, tách các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế độc lập với ngân sách nhà nước. Mức ưu đãi người có công được thay đổi cơ bản, cải thiện lớn mức sống người có công và gia đình họ…

       Những hạn chế trong cải cách chính sách tiền công ở nước ta những năm gần đây và nguyên nhân

       Việt Nam đã liên tục thực hiện cải cách chính sách tiền lương và các chính sách liên quan sao cho phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của nhân dân cũng như ổn định cuộc sống của người dân  nhưng bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn có những hạn chế và nguyên nhân nhất định.

       Những hạn chế , bất cập trong cải cách chính sách tiền công như sau :

          Về mức lương tối thiểu :

        Vẫn còn xa mức sống tối thiểu .Theo khảo sát của Viện Công nhân – Công đoàn (Tổng LĐLĐ Việt Nam), nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình năm 2018 đối với vùng 1 là 4,7 triệu đồng, vùng 2 là 4,13 triệu đồng, vùng 3 là 3,55 triệu đồng và vùng 4 là 3,2 triệu đồng. Hiện nay lạm phát ngày càng cao đẩy giá cả tiêu dùng leo thang chóng mặt vì thế mà mức lương tối thiểu không đáp ứng được cuộc sống  nhất là ở những thành phố lớn như Hà Nội hay Tp. Hồ Chí Minh .Mức lương tối thiểu thấp không bảo đảm tái sản xuất giản đơn sức lao động của bản thân người lao động.

        Ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh : có nhiều thiệt thòi cho các lao động tại các công ty nước ngoài sẽ không chấp nhận trả cao so với mức lương tối thiểu mà nhà nước quy định. Hiện tại lương tối thiểu chung và lương tối thiểu vùng đang áp dụng chung cho cả doanh nghiệp lẫn cả khối hành chính sự nghiệp, cho nên nếu muốn tăng thì sẽ ảnh hưởng tới ngân sách nhà nước, điều này khiến mức lương tối thiểu của doanh nghiệp cũng tăng rất chậm, không phù hợp thực tế.

          Về thời gian và mức độ điều chỉnh tiền lương danh nghĩa:

       Ở nước ta, trong những năm gần đây, tỷ lệ lạm phát hằng năm khá cao, vì thế, về nguyên tắc, để tiền lương thực tế của người lao động không bị giảm cần phải điều chỉnh tăng mức lương danh nghĩa ít nhất ngang bằng với tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, trên thực tế, việc điều chỉnh lương chưa được thực hiện kịp thời, không theo kịp với đà tăng giá.

          Về hệ số phụ cấp:

       Tiền lương có một chức năng cực kỳ quan trọng là điều tiết quan hệ cung – cầu về sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Hệ số phụ cấp trong chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay mới chỉ có loại phụ cấp tham gia điều tiết cung – cầu sức lao động theo vùng là phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ. Sự chênh lệch mức lương giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp chưa đủ để khuyến khích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thậm chí còn có tình trạng “chảy máu chất xám”.

         Về tỷ lệ tiền lương trong thu nhập:

       Tiền lương chỉ trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự hoạt động tích cực của người lao động khi nó chiếm phần lớn trong thu nhập của họ. Với chính sách tiền lương hiện hành, tiền lương của cán bộ công nhân, viên chức hiện nay chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng thu nhập của người hưởng lương (khoảng 30%- 50%), làm cho tiền lương không phản ánh đúng thang giá trị lao động, ảnh hưởng lớn tới quan hệ tiền lương trên thực tế.

        Về chất lượng :

       Tiền lương hầu như không có tác động nâng cao chất lượng với người hưởng lương từ ngân sách. Hàng năm , nhà nước bố trí hàng chục nghìn tỷ đồng để thực hiện cải cách tiền lương mà chất lượng không được nâng cao, thậm chí giảm sút; bộ máy vẫn trì trệ, phiền hà.

       Tiền lương và các chế độ đãi ngộ còn thấp đối với nhiều cán bộ, công chức, viên chức đang ngày đêm làm việc tận tâm, có trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả, nhưng lại cao so với bộ phận không nhỏ số cán bộ, công chức, viên chức còn lại.
Bảo hiểm xã hội ,chính sách người có công chưa thực hiện đúng nghị quyết của các kỳ đại hội Đảng đề ra .Tiền lương thực hiện (thực nhận) hoặc thu nhập từ tiền lương, từ cơ quan, đơn vị ngày càng bình quân, chắp vá, phá vỡ quan hệ tiền lương  chung, không còn đảm bảm nguyên tắc phân phối theo lao động .Càng xã hội hóa, đóng góp người hưởng thụ hưởng càng tăng nặng , tỷ lệ chi ngân sách nhà nước vẫn tăng thường xuyên , quỹ tiền lương chi trả ngân sách tăng cao mà không mấy hiệu quả

Một số nguyên nhân dẫn đến hạn chế của thực trạng tiền công của người lao động Việt Nam hiện nay

         Hiện trạng bất cập trong chế độ tiền công, tiền lương ở nước ta hiện nay bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân của các bất cập, hạn chế của chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và chính sách người có công khá nhiều,

         Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường , về nhận thức đã có những thay đổi lớn nhưng bên cạnh đó trên thực tế  việc cải cách tiền lương không đồng bộ với việc đổi mới các lĩnh vực có liên quan nên kết quả không cao.Cải cách hành chính trong khu vực nhà nước diễn ra chậm, đặc biệt việc tinh giảm biên chế còn thiếu cương quyết.

        Tiền lương chưa thực sự được coi là đầu tư cho người lao động, đầu tư cho nguồn nhân lực mà chỉ coi đó là một khoản chi cho tiêu dùng cá nhân.

          Khi tiến hành cải cách tiền lương chưa có cơ chế để tạo nguồn mà chỉ nặng về cân đối ngân sách. Vì thế khi xây dựng mức lương tối thiểu, nhà nước dường như bị ràng buộc bởi sự eo hẹp của ngân sách nên thường đưa ra những mức giá tư liệu sinh hoạt thấp xa so với mức thực tế. Chính vì vậy, về tổng thể, càng xã hội hóa, càng khoán, quỹ tiền lương và biên chế càng tăng, tỷ trọng tăng chi ngân sách nhà nước không giảm

          Cấp quyết định chưa quyết tâm, chưa đầu tư công sức, thời gian để nghiên cứu, lắng nghe, trang bị kiến thức và đủ tầm hiểu biết để xem xét, giải quyết vấn đề tiền lương, không ít quyết định vẫn mang tính chủ quan, kinh nghiệm, nặng về chính trị theo nhiệm kỳ cho dù không ít các chuyên gia, các nhà khoa học, nghiên cứu đưa ra các đề xuất phù hợp; ngại đụng chạm, thiếu quyết tâm chính trị làm mạnh mẽ. mặc dù thấy rõ nội dung cải cách là cần thiết

 Một số phương hướng cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả cải cách chính sách tiền công ở nước ta hiện nay

        Đối với Nhà nước :

       Đổi mới vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lao động và xã hội , tăng cường áp dụng hỗ trợ thực hiện các chính sách về tiền công

       Tạo điều kiện pháp lý để đoàn thể , các tổ chức chính trị xã hội tham gia việc hoạch định và thực hiện các chính sách về lao động và tiền lương .

       Tăng cường vai trò quản lý nhà nuớc về lao động thông qua việc thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng và đăng ký thang lương, bảng lương; hoàn thiện chế tài của Nhà nước đủ mạnh để buộc các doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp  hành các quy định của pháp luật lao động về tiền lương, tiền công. Điều hoà cung- cầu để ổn định giá cả thị trường. Nếu như cung bằng cầu thì giá cả mới ở mức hợp lí

       Đối với Bộ , ngành có liên quan :

       Cụ thể hóa hướng dẫn quy địnhvới khu vực sản xuất kinh doanh.Chuyển đồi cơ chế quản lí hành chính áp đặt tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh sang cơ chế quản lí mang tính hướng dẫn là chủ yếu . Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra . Tổ chức bộ phận nghiên cứu hoạch định chính sách tiền lương phù hợp , kịp thời xử lý những vướng mắc phát sinh và sửa đổi bố sung .

       Chống lạm phát để giữ cho mức giá cả ổn định, để tiền công danh nghĩa vẫn có thể mua được nhiều hàng hoá tiêu dùng. Khi lạm phát xuất hiện, giá cả sẽ tăng lên mà mức công vẫn thế thì họ sẽ không thể mua được tư liệu tiêu dùng, không đảm bảo được đời sống của chính mình

         Đối với khu vực hành hính sự nghiệp, dịch vụ công  :

       Mở rộng quan hệ tiền công khắc phục trong tri trả lương .Khuyến khích người có tài , có trình độ trong công tác . Tăng các khoản phụ cấp thêm như : Tiền công tác , Tiền thưởng chuyên môn,..Gắn với cải cách hành chính tinh giảm biên chế , thu gọn tổ chức bộ máy nâng cao năng lực của cán bộ công chức .Trao quyền tự chủ trong việc xây dựng quy chế trả lương cụ thể đông thời trao quyền chủ động cho người đứng đầu tổ chức .Nhà nước chỉ giữ lại hình thức quản lí biên chế ở những khâu, những vị trí quan trọng

         Đối với khu vực sản xuất , kinh doanh :

       Tiếp tục thực hiện cơ chế , chính sách tiền lương , đảm bảo bình đẳng hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa những người lao động và người sử dụng lao động. Tăng tiền công danh nghĩa,trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống.

        Nhà nước chỉ qui định những nguyên tắc cơ bản tri trả tiền lương ở các loại hình doanh nghiệp và giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp , doanh nghiệp phải nghiêm túc thực hiện đúng theo qui định của pháp luật.

       Thực tế trên cho thấy, lý luận hàng hóa sức lao động của C. Mác không chỉ đúng trong chủ nghĩa tư bản mà nó còn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Vì thế, nghiên cứu và vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động và tiền công của C. Mác vào thực tiễn nhất là việc cải cách chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo ra sự đồng bộ trong đổi mới các chính sách kinh tế – xã hội khắc phục những hạn chế bất cập của nó xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của cuộc sống.


       Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề: Lý luận về giá trị hàng hóa sức lao động của C. Mác và sự vận dụng lý luận này trong vấn đề tiền công ở Việt Nam hiện nay. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

       Trân trọng ./.


 

RELATED ARTICLES
- Advertisment -

Bài viết xem nhiều

Recent Comments

phone-call