Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 so với Luật Doanh nghiệp năm 2005

      Luật Doanh nghiệp của Việt Nam quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, nhóm công ty. Ngày 26/11/2014, Luật Doanh nghiệp chính thức được Quốc hội ban hành với mục tiêu cao nhất là đưa doanh nghiệp trở thành một công cụ kinh doanh rẻ hơn, an toàn hơn và hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư để qua đó tăng cường thu hút và huy động hơn nữa mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005, đồng thời khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của quy định hiện hành và thể chế hóa các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, Luật Doanh nghiệp 2014  đã có những quy định mới nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp. Để nhận thức được những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 em xin chọn đề bài: “Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 so với Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Tối thiểu là năm điểm mới)”.


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Giáo trình Luật Thương Mại Việt Nam tập 1, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2014.
  • Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014.
  • Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005.
  • Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005:

Hoàn cảnh ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2014

       Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, Luật Doanh nghiệp 2005 đã ngày càng bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập, không phù hợp với tình hình thực tiễn của đời sống, đồng thời, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong xã hội. Chính vì vậy, nhu cầu cấp thiết được đặt ra là phải sửa đổi  Luật doanh nghiệp sao cho phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, thuận lợi cho các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh.

       Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, với 10 Chương, 213 Điều, Luật Doanh nghiệp năm 2014 vừa tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đồng thời sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập đang tồn tại. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2014 hướng tới sự phù hợp với thực tế kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp và tháo gỡ nhiều khó khăn, hạn chế góp phần tạo điều kiện mở ra một môi trường kinh doanh thuận lợi phù hợp với xu hướng chung của thế giới.

Đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 so với Luật Doanh nghiệp năm 2005

Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014

       So với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh Nghiệp 2014 có nhiều thay đổi, đó là tư duy mở khi luật chỉ quy định những vấn đề chung nhất, mang tính định hướng, (thậm chí có nhiều điểm là gợi mở) về thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, về chi tiết thì nhường lại cho doanh nghiệp tự do, tự nguyện, cam kết, thoả thuận theo các quy định của Pháp luật. Các điểm mới gồm:

  • Tạo điều kiện thuận lợi cho đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Qui định mới về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, về con dấu pháp nhân của doanh nghiệp, về cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho nhà đầu tư nước ngoài, về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
  • Luật Doanh nghiệp 2014 đã giải quyết những vướng mắc, tranh chấp phát sinh trong thực tiễn áp dụng các quy định về vốn góp điều lệ kinh doanh tại Luật Doanh nghiệp 2005.
  • Cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có hơn một người đại diện theo pháp luật.
  • Thay đổi lại quy định về mô hình tổ chức quản trị theo điều 134 Luật Doanh nghiệp 2014, theo đó cấu trúc mô hình sẽ tuân theo một trong hai hình thức.
  • Đã mở rộng các đối tượng được quyền hợp nhất, chia, tách, sáp nhập công ty.
  • Luật Doanh nghiệp 2014 quy định rõ hơn và hợp lý hơn về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng bổ sung quy định về giải thể doanh nghiệp trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án.
  • Bãi bỏ nhiều điều khoản thiếu tính thực thi và cản trở hoạt động của doanh nghiệp.
  • Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin.
  • Chỉ quy định 5 trường hợp bị thu hồi Giấy CNĐKDN so với 8 trường hợp của Luật cũ. Đồng thời Luật mới cũng có các quy định nhằm giúp doanh nghiệp rút khỏi thị trường thuận lợi hơn, nhanh hơn và rẻ hơn.
  • Về nhóm công ty thì Luật Doanh nghiệp 2014 hạn chế sở hữu chéo công ty mẹ – công ty con, giữa công ty con với nhau.
  • Về địa điểm họp và cách thức lưu trữ biên bản của cuộc họp, Luật cũng quy định thoáng hơn.
  • Bãi bỏ quy định gây cản trở hoạt động của các chủ đầu tư là một người đã là Giám đốc, Tổng Giám đốc của một công ty cổ phần thì không được làm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của bất kỳ công ty nào khác. Bãi bỏ quy định mà thực tế cho thấy tính khả thi rất thấp trong nhiều năm áp dụng Luật Doanh nghiệp năm 2005 ví dụ như quy định về đăng ký danh sách cổ đông nắm giữ 5% vốn điều lệ.
  • Luật cũng quy định tăng cường quyền cho cổ đông hoặc nhóm cổ đông nhỏ bằng quy định chỉ cần sở hữu ít nhất 1% cổ phần phổ thông liên tục trong 6 tháng là đã có quyền khởi kiện hoặc nhân danh công ty để khởi kiện.
  • Quy định về việc hợp nhất, chia tách, sáp nhập mà không bắt buộc phải là những công ty cùng loại. Quy định này chắc chắn góp phần thúc đẩy hoạt động mua bán doanh nghiệp trong thời gian tới.

Phân tích và đánh giá những điểm mới nổi bật nhất của Luật Doanh nghiệp 2014

Đăng ký kinh doanh

      Thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

      Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 và khoản 3 Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2014, thời hạn để cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các loại hình doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) được rút ngắn từ 5 ngày làm việc (theo luật Doanh nghiệp 2005) xuống còn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ. Việc quy định rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp mới giúp cho các thủ tục nhanh chóng hơn, tránh rườm rà trong các quy định pháp luật.

       Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

       Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ còn 4 nội dung chính: tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo pháp luật, chủ DNTN, thành viên hợp danh, thành viên công ty TNHH; vốn điều lệ của doanh nghiệp.

       Trong đó điểm đặc biệt quan tâm đó là: bỏ ghi ngành nghề kinh doanh trong Giấy CNĐKDN; bỏ việc xác định vốn pháp định, chứng chỉ hành nghề (đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện) khi đăng ký thành lập doanh nghiệp. Theo đó, các tổ chức, cá nhân cứ thành lập doanh nghiệp trước, còn điều kiện về ngành nghề kinh doanh, thì tổ chức, cá nhân đó phải tuân thủ đầy đủ mới được làm. Quy định này tạo sự thân thiện hơn cho khởi nghiệp và kinh doanh nói chung.

       Luật DN năm 2014 đã bỏ quy định về việc doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, mà chỉ quy định về việc đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh những ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.

       Theo đó, doanh nghiệp chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh (doanh nghiệp thực hiện rồi gửi Thông báo đến cơ quan ĐKKD để cập nhật).

       Như vậy, sẽ không còn khái niệm “kinh doanh trái phép” bởi vì hiện nay doanh nghiệp có quyền được tự do kinh doanh, miễn là phù hợp theo pháp luật chứ không còn là “trái phép” (ngành nghề chưa được ghi trong Giấy CNĐKDN) theo như các quy định trước đây.

       Con dấu của doanh nghiệp

       Cách tiếp cận mới hoàn toàn về con dấu doanh nghiệp, mang tính “cách mạng”

       Trước đây việc cấp, sử dụng con dấu của doanh nghiệp do Bộ Công an quy định, theo luật Doanh nghiệp 2014 tại Điều 44, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp. Thay vì phải đăng ký với cơ quan công an như luật cũ, doanh nghiệp chỉ cần thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Quy định này giúp doanh nghiệp đỡ phiền hà, tốn kém về chi phí, thời gian và phù hợp với xu thế chung của thế giới.

       Điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông công ty

       Theo quy định tại Điều 141 Luật Doanh nghiệp 2014, điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông chính thức thay đổi theo đúng thông lệ quốc tế khi giảm tỷ lệ dự họp từ 65% (luật Doanh nghiệp 2005) xuống còn 51%. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành theo đúng kế hoạch của doanh nghiệp, tránh tình trạng phải triệu tập lần thứ 2, lần thứ 3 do không đủ điều kiện.

       Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

       Khác với luật Doanh nghiệp 2005, Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty TNHH và công ty cổ phần có thể tự quyết định, chỉ định một người đại diện theo pháp luật hoặc trong trường hợp cần thiết thì có quyền tự chủ quyết định việc có nhiều người đại diện theo pháp luật.

       Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều lệ công ty. Đây là quy định hoàn toàn mới mẻ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật, đồng thời, gỡ rối cho doanh nghiệp trong các trường hợp: người đại diện duy nhất không hợp tác, không thực hiện các yêu cầu của thành viên/cổ đông trong quá trình quản lý điều hành nội bộ cũng như giao dịch với bên ngoài công ty.

       Hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp

       Theo quy định tại Điều 194, 195 Luật Doanh nghiệp 2014, các công ty có thể hợp nhất, sáp nhập vào nhau để tạo thành một công ty mới mà không bắt buộc phải là “công ty cùng loại” như quy định tại luật cũ. Quy định này là sự đổi mới quan trọng góp phần thúc đẩy thị trường mua bán doanh nghiệp đang hết sức sôi động hiện nay.

       Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin

       Việc luật hóa Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

       Quy định cuộc họp được ghi biên bản và có thể ghi âm hoặc ghi và lưu giữ dưới hình thức điện tử khác đã có bước tiến bộ vượt bậc so với quy định cũ là chỉ ghi vào sổ biên bản.

       Luật cũng thống nhất cách hiểu về nhiều điểm mà trước đây gây nhiều tranh cãi như việc chốt lại địa điểm họp được xác định là nơi chủ tọa tham dự họp, mọi người không nhất thiết phải cùng ngồi họp một chỗ.

       Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của doanh nghiệp sẽ làm cho các hoạt động được hiện đại hóa, việc quản lý trên cổng thông tin quốc gia dễ dàng hơn.

       Công tác tổ chức, quản lý doanh nghiệp

       Cho phép các công ty có cùng bản chất (có thể khác loại hình thức tổ chức) có thể hợp nhất, sáp nhập, chia, tách; cho phép chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH.

       Cho phép Công ty TNHH một thành viên, Công ty cổ phần được giảm vốn điều lệ; cổ đông được công ty hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông nếu công ty đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp (Theo Luật 2005: Cổ đông không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần).

       Chính thức thay đổi theo đúng thông lệ quốc tế khi giảm tỷ lệ dự họp từ 65% (Luật cũ) xuống còn 51%. Khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết là cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành.

       Bãi bỏ việc Đại hội đồng cổ đông bầu trực tiếp Chủ tịch hội đồng quản trị (Giao Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch).

       Hạn chế sở hữu chéo, trong đó quy định 03 điều kiện cụ thể:

  • Công ty con không được góp vốn, mua cổ phần công ty mẹ;
  • Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau;
  • Các công ty con của cùng một công ty mẹ mà trong đó Nhà nước sở hữu >65% vốn điều lệ không được cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp.

       Luật DN năm 2014 áp dụng thống nhất thời hạn phải thanh toán đủ phần vốn góp khi thành lập doanh nghiệp, quy định rút ngắn thời hạn góp vốn đối với chủ sở hữu, thành viên công ty TNHH trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (trước đây quy định thời hạn góp vốn tối đa đối với Công ty TNHH một thành viên và hai thành viên trở lên là 36 tháng).

       Tách riêng thủ tục thành lập doanh nghiệp với thủ tục về đầu tư dự án theo Luật Đầu tư

       Cùng với Luật Đầu tư 2014, Luật DN mới đã chính thức bãi bỏ nội dung Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có thể đồng thời là Giấy CNĐKDN. Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài muốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam đều phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư sau đó sẽ thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp (như đối với doanh nghiệp trong nước).

       Quy định rõ hơn và hợp lý hơn về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp

       Trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn. Điều này tác động lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, tổng số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2011, 2012, 2013 và 2014 lần lượt là 53,9 ngàn, 54,2 ngàn, 60,7 ngàn và 67,8 ngàn doanh nghiệp. Do vậy, song song với việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký gia nhập thị trường của doanh nghiệp, việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký rút khỏi thị trường của doanh nghiệp cũng cần phải quan tâm đúng mức. Điều này sẽ góp phần hạn chế tình trạng bức xúc của xã hội và cộng đồng doanh nghiệp trong thời gian vừa qua về các vấn đề như: doanh nghiệp “chết” mà không được chôn, tình trạng doanh nghiệp chật vật xin được chết… đồng thời, sẽ góp phần làm “sạch” dữ liệu về doanh nghiệp.

       Nhằm khắc phục những vướng mắc nêu trên, quy trình giải thể doanh nghiệp quy định đã được thiết kế theo hướng “tự động”. Theo đó, thời hạn tối đa để cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện thủ tục xóa tên doanh nghiệp là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể. Đồng thời, doanh nghiệp sẽ được tự động giải thể sau 180 ngày kể từ ngày cơ quan đăng ký kinh doanh nhận được quyết định giải thể của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các cơ quan, đặc biệt là cơ quan thuế sẽ phải khẩn trương thực hiện thủ tục quyết toán thuế cho doanh nghiệp.

       Sự thay đổi trong các quy định về các loại hình doanh nghiệp

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

        Thay đổi về thời hạn góp vốn của Công ty TNHH

       Tại Điều 48 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định thống nhất thời hạn phải thanh toán đủ phần vốn góp khi thành lập công ty, quy định rút ngắn thời hạn góp vốn đối với chủ sở hữu, thành viên công ty TNHH phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp như loại hình Công ty cổ phần thay vì quy định tại Luật doanh nghiệp 2005, Nghị định 102/2010 hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp về thời hạn góp vốn tối đa đối với Công ty TNHH một thành viên và hai thành viên trở lên là 36 tháng.

       Điều kiện tiến hành họp Hội đồng thành viên

       Quy định tại Điều 59 Luật doanh nghiệp 2014 về điều kiện tiến hành họp Hội đồng thành viên so với Điều 51 Luật doanh nghiệp 2005 có sự thay đổi về tỷ lệ trong cuộc họp lần thứ nhất, cụ thể Luật doanh nghiệp 2005 quy định tỷ lệ họp lần thứ nhất được tiến hành khi có số thành viên dự họp đại diện ít nhất 75% Vốn điều lệ, thì đến Luật doanh nghiệp 2014 đã giảm tỷ lệ này xuống còn 65% Vốn điều lệ.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (liên quan đến Vốn điều lệ Công ty)

       Luật doanh nghiệp 2014 cho phép Công ty TNHH một thành viên được giảm Vốn điều lệ thay bằng quy định tại Điều 76 Luật doanh nghiệp 2005 quy định Công ty TNHH một thành viên không được giảm Vốn điều lệ, cụ thể Khoản 1 Điều 87 Luật doanh nghiệp 2014 quy định như sau:

       “ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thay đổi vốn điều lệ trong các trường hợp sau đây:

       a) Hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho chủ sở hữu;

       b) Vốn điều lệ không được chủ sở hữu thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định tại Điều 74 của Luật này”.

Doanh nghiệp nhà nước

       Luật doanh nghiệp 2014 bổ sung Chương IV Doanh nghiệp Nhà nước. Đây là quy định hoàn toàn mới so với Luật Doanh nghiệp năm 2005.

       Công ty cổ phần

       Xuất hiện thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

       Điều 134 Luật doanh nghiệp 2014 đã bổ sung thêm điều kiện đối với công ty cổ phần có cơ cấu tổ chức quản lý theo mô hình không có Ban kiểm soát thì ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị.

       Ai sẽ muốn làm thành viên Hội đồng quản trị độc lập? Nên chăng Luật doanh nghiệp quy định riêng giữa việc bầu thành viên HĐQT thông thường và bầu thành viên HĐQT độc lập hoặc bổ sung quy định vào Luật doanh nghiệp 2014 là thành viên Hội đồng quản trị có số phiếu bầu thấp nhất sẽ làm thành viên Hội đồng quản trị độc lập bởi thực tế rất ít thành viên HĐQT muốn làm thành viên HĐQT độc lập.

       Thay đổi thời hạn lập và chốt danh sách cổ đông

       Theo quy định tại Điều 98 Luật doanh nghiệp 2005 thì danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHĐCĐ được lập khi có quyết định triệu tập và phải lập xong chậm nhất 30 ngày trước ngày khai mạc ĐHĐCĐ nếu Điều lệ công ty không quy định một thời hạn ngắn hơn thì đến Điều 137 Luật doanh nghiệp 2014 quy định danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHĐCĐ được lập không sớm hơn 05 ngày trước ngày gửi giấy mời họp ĐHĐCĐ nếu Điều lệ công ty không quy định một thời hạn khác dài hơn.

       Thay đổi tỷ lệ tiến hành cuộc họp ĐHĐCĐ

       Nếu như Điều 102 Luật doanh nghiệp 2005 quy định

       “1. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

       Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 1 Điều này thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất. Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định” thì đến Điều 141 Luật doanh nghiệp 2014, tỷ lệ trên đã giảm xuống còn 51% và 33%.

       Thay đổi  tỷ lệ thông qua Nghị quyết, Quyết định ĐHĐCĐ

       Điều 104 Luật doanh nghiệp 2005 quy định:

       Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây:

       a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định;

       b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định;

       Trường hợp thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

       Điều  144 Luật doanh nghiệp 2014 quy định tỷ lệ trên thay đổi lần lượt như sau: 51%- 65%- 51%. Quy định như vậy là phù hợp với thông lệ quốc tế Nghị quyết số 71 /2006/QH11 của Quốc hội ngày 29 tháng 11 năm 2006.


Cho phép doanh nghiệp tự quy định phương thức bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

       Điều 144 Luật doanh nghiệp 2014 quy định không bắt buộc phải bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát theo phương thức bầu dồn phiếu như Luật doanh nghiệp 2005 mà cho phép bầu bằng phương thức khác và phải quy định tại Điều lệ công ty, cụ thể là: “ Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu,…”

       Mô hình quản trị công ty cổ phần

       Theo đó trên thế giới có nhiều mô hình quản trị công ty cổ phần như: Mô hình hội đồng hai cấp, mô hình hội đồng một cấp. Ở Việt Nam trước đó đã quản lý công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp ban hành 2005. Theo đó, cấu trúc gồm: Đại hội đông Hội đồng quản trị, Giám đốc/tổng giám đốc và ban kiểm soát.

       Nhưng tới mô hình tổ chức quản trị theo điều 134 Luật doanh nghiệp 2014 cấu trúc mô hình sẽ tuân theo một trong hai hình thức sau đây:

       Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;

       Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty.

       Luật Doan Nghiệp(LDN) 2014 tạo cơ hội cho công ty cổ phần chủ động trong việc lựa chọn người đại diện pháp luật (Chủ tịch HĐQT và/hoặc Giám đốc/Tổng Giám đốc). Trường hợp có 2 người đại diện pháp luật trở lên, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc/Tổng Giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật và cần được quy định rõ trong Điều lệ.

       Bên cạnh đó, LDN 2014 cũng điều chỉnh và bổ sung một số quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của ĐHĐCĐ, HĐQT; cơ cấu, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ, cũng như điều kiện trở thành thành viên, thành viên độc lập HĐQT, Chủ tịch HĐQT, người đại diện theo pháp luật. Theo đó, HĐQT sẽ có quyền tự bầu, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch HĐQT.

       Bãi bỏ hạn chế đối với Giám đốc/ Tổng giám đốc Công ty cổ phần

       Điều 157 Luật doanh nghiệp 2014 đã bãi bỏ quy định : “Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp” (theo Điều 116 Luật doanh nghiệp 2005). Đây cùng là điểm tiến bộ của Luật doanh nghiệp 2014 so với Luật doanh nghiệp 2005, tuy nhiên bên cạnh tiến bộ thì chúng ta không thể không nhắc tới những bất cập, cụ thể liệu quy định như vậy thì có làm gia tăng các giao dịch, hợp đồng bất chính thu lợi riêng cho cá nhân Giám đốc/ Tổng giám đốc làm đại diện theo pháp luật của hai công ty cổ phần không vì họ có rất nhiều quyền trong hoạt động kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp?

       Nhóm công ty (hạn chế sở hữu chéo công ty mẹ – công ty con, giữa công ty con với nhau)

       Luật doanh nghiệp 2014 bổ sung quy định rõ hơn về hình thức công ty mẹ – công ty con và các quy định hạn chế sở hữu vốn góp của công ty mẹ và công ty con, cụ thể tại Điều 189 Luật doanh nghiệp 2014:

        “ 2. Công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.

       Các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật này”.

       Như vậy, theo quy định trên thì công ty con trong cùng một nhóm công ty không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau và cấm công ty con đầu tư, góp vốn mua cổ phần của công ty mẹ. Quy định như vậy, hạn chế được rủi ro gì? Và gây khó khăn gì cho doanh nghiệp?

       Luật Doanh nghiệp năm 2014 được Quốc hội thông qua là sự kiện quan trọng đánh dấu những đổi mới rất trọng yếu liên quan đến doanh nghiệp, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số doanh nghiệp. Để các quy định đổi mới của Luật sớm đi vào cuộc sống, Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương, doanh nghiệp sẽ khẩn trương phối hợp triển khai xây dựng các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện, góp phần giúp doanh nghiệp Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bền vững.


       Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề: Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 so với Luật Doanh nghiệp năm 2005. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

       Trân trọng ./.


 

RELATED ARTICLES
- Advertisment -

Bài viết xem nhiều

Recent Comments

phone-call