Phân tích thủ tục giải quyết trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và thực tiễn thực hiện

         Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là quyền của đương sự trong việc tự quyết định và quyền, lợi ích của họ và lựa chọn biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó. Là một vấn đề cơ bản của tố tụng dân sự, chi phối quá trình tố tụng dân sự nên quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự được quy định là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự. Nguyên tắc này có tính tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong toàn bộ quy định của pháp luật tố tụng dân sự cũng như trong việc thực hiện, áp dụng các quy định đó. Việc đương sự rút đơn khởi kiện trong các giai đoạn tố tụng dân sự  là một trong những biểu hiện rõ ràng nhất về quyền tự định đoạt này. Để tìm hiểu các thủ tục mà cơ quan Nhà nước có thầm quyền phải thực hiện khi đương sự rút đơn khởi kiện em xin chọn đề tài: “Phân tích thủ tục giải quyết trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và thực tiễn thực hiện”


Danh mục từ viết tắt:

TTDSTố tụng dân sự
BLTTDSBộ luật tố tụng dân sự
XXSTXét xử sơ thẩm
XXPTXét xử phúc thẩm

Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Giáo trình luật Tố tụng dân sự
  • Nghị quyết số 05/2012/ NQ-HĐTPTANDTC về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS.
  • Nghị quyết số 06/2012 của HĐTPTANDTC về Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS.
  • Nguyễn Thị Mỹ Lệ, Quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong tố tụng dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, năm 2012.
  • Bùi Thị Huyền. Phiên tòa sơ thẩm dân sự. Những vấn đề lý luận và thực tiễn. Luận án tiến sĩ luật học. Năm 2008
  • Nguyễn Thị Thu Hà,  Phúc thẩm trong tố tụng dân sự,  Luận án tiến sĩ luật học, năm 2010.

Một số vấn đề lý luận về việc đương sự rút đơn khởi kiện

      Theo Khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015:

Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. 

Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác.

      Khởi kiện là hành vi đầu tiên của chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, và là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Không có hoạt động khởi kiện thì không có quá trình tố tụng dân sự cho các giai đoạn tiếp theo.

      Rút đơn khởi kiện có thể được hiểu là việc đương sự từ bỏ toàn bộ yêu cầu của mình đã đưa ra theo trình tự do pháp luật quy định.  Đây là quyền tự định đoạt của đương sự được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức cho phép họ được từ bỏ một phần hoặc toàn bộ các đề nghị, đòi hỏi trong quá trình tố tụng theo các quy định của pháp luật.


Thủ tục giải quyết trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện ở tòa án cấp sơ thẩm

      Các đương sự đã đưa ra yêu cầu thì đều có quyền rút yêu cầu, tức là từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu ban đầu. Trên cơ sở quyền tự định đoạt của đương sự, tiến trình của phiên tòa và phạm vi xét xử của Tòa Án phụ thuộc vào quyền tự định đoạt của các đương sự, đặc biệt là bên khởi kiện. Tuy nhiên việc rút yêu cầu muốn được Tòa án chấp nhận thì trước hết phải đảm bảo sự tự nguyện, đồng thời phải được thực hiện theo trình tự do pháp luật TTDS quy định. Theo quy định tại điều 186 và điều 187 BLTTDS thì thông thường nguyên đơn chính là người khởi kiện, ngoài ra người khởi kiện có thể là người đại diện của nguyên đơn hoặc các tổ chức xã hội do pháp luật quy định. Theo quy định của pháp luật hiện hành về việc rút đơn khởi kiện của đương sự tại Tòa án sơ thẩm có 2 trường hợp:

Thủ tục giải quyết trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện

Đương sự rút đơn khời kiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

      Trong giai đoạn chuẩn bị XXST, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận thì tùy vào từng trường hợp mà tòa án ra các quyết định sau:

      Trường hợp thứ nhất: Không có yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập. Với trường hợp này thì Toà án chấp nhận việc người khởi kiện rút đơn khởi kiện và căn cứ vào điểm c khoản 1 217 của BLTTDS 2015 “Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”  thì tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

      Trường hợp thứ hai: Có yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì tuỳ trường hợp mà giải quyết như sau: 

      Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 217.

      Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 217.

      Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 217.

      Sau khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của đương sự đã rút được hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều này, Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung đối với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định lại địa vị tố tụng của các đương sự theo đúng quy định tại Điều 245 của BLTTDS.

      Như vậy tùy thuộc vào mỗi vụ án có yêu cầu phản tố, yêu cầu của các đương sự khác nhau mà hệ quả của việc rút đơn khởi kiện cũng khác nhau, có thể Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự  hoặc cũng có thể tiếp tục giải quyết.

Đương sự rút đơn khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm

    Trường hợp trong các giai đoạn tố tụng trước đó đương sự không rút đơn khởi kiện nhưng tại phiên tòa sơ thẩm đương sự lại muốn thực hiện quyền trên thì trong trường hợp này Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 244 BLTTDS 2015 để giải quyết. Theo đó Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử với yêu cầu đã rút; và việc rút đơn khởi kiện của tại phiên tòa không cần phải lập thành văn bản nhưng phải ghi trong biên bản phiên tòa. Khoản 2 Điều 244 quy định: “Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút”. Như vậy, việc rút đơn khởi kiện trong tình huống này của đương sự được coi là rút toàn bộ yêu cầu.Với việc rút đơn khởi kiện của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm thì địa vị tố tụng của các đương sự đã bị thay đổi theo quy định tại Điều 245 BLTTDS 2015.Theo đó:

1.Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.

2.Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

      Việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự trong những trường hợp này nhằm tránh việc tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử, sau đó nếu bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập, thì Toà án lại phải thụ lý và giải quyết các yêu cầu đó.Trong đó,quan hệ pháp luật đó đã được Tòa án thụ lý. Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị  tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp dân sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả. Khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự sẽ thay đổi, nên kể từ thời điểm các đương sự thay đổi địa vị tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định theo yêu cầu của nguyên đơn mới, các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo địa vị được thay đổi.


Thủ tục giải quyết trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện ở tòa án cấp phúc thẩm

Rút đơn khởi kiện ở tòa án cấp phúc thẩm

      Việc đương sự rút đơn khởi kiện tại Tòa án phúc thẩm được giải quyết theo quy định tại điều 299 BLTTDS 2015. Theo quy định này nguyên đơn có quyền rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm. Theo tinh thần của Nghị quyết số 06/2012/NQ- HĐTP thì việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản, việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa thì không cần lập văn bản nhưng phải ghi vào biên bản phiên tòa.

Đương sự rút đơn khởi kiện trong thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm

      Trong thời hạn nguyên đơn có quyền kháng cáo, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện, thì Toà án cấp sơ thẩm cần phải giải thích cho họ biết hậu quả của việc bị đơn không đồng ý để họ quyết định việc kháng cáo hoặc rút đơn khởi kiện.

      Trường hợp nguyên đơn vẫn  rút đơn khởi kiện thì Toà án cấp sơ thẩm phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn biết và yêu cầu bị đơn phải trả lời bằng văn bản cho Toà án cấp sơ thẩm về việc họ có đồng ý hay không đồng ý trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án. Tuỳ thuộc vào kết quả trả lời của bị đơn mà giải quyết như sau:

       Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm nhận được văn bản trả lời của bị đơn không đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị không có đương sự nào kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, thì việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn đương nhiên không được chấp nhận. Trong trường hợp này bản án sơ thẩm được coi là không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

      Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm nhận được văn bản trả lời của bị đơn đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, thì không phân biệt trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị có đương sự nào kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị hay không, Toà án cấp sơ thẩm đều phải gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị, văn bản rút đơn khởi kiện cho Toà án cấp phúc thẩm để Toà án cấp phúc thẩm căn cứ vào Điều 299 của BLTTDS 2015 mở phiên toà giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Đương sự rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa XXPT

      Trường hợp đương sự có kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có kháng nghị, nhưng trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn rút đơn khởi kiện, thì Toà án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 299 của BLTTDS 2015. Theo đó Hội đồng XXPT phải hỏi ý kiến bị đơn có đồng ý hay không:

       Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án vẫn tiếp tục phiên tòa XXPT, các đương sự phải thực hiện theo kết quả của cuối cùng của Hộ đồng xét xử.

       Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng XXPT ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.Theo quy định tại Khoản 1 Điều 218 và Khoản 2 Điều 299 BLTTDS, nếu Hội đồng XXPT ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì nguyên đơn có quyền kiện lại vụ án nếu như thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

      Ta có thể thấy thủ tục giải quyết khi đương sự rút đơn khởi kiện ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm là hoàn toàn khác nhau. Nếu như ở cấp sơ thẩm, khi rút đơn khởi kiện đương sự không phải hỏi ý kiến của bị đơn. Trong khi đó, tại giai đoạn XXPT nguyên đơn phải được sự đồng ý của bị đơn nếu như muốn rút đơn khởi kiện. Sở dĩ có sự khác nhau trên là do: thông thường nguyên đơn muốn rút đơn khởi kiện tại cấp phúc thẩm khi kết quả của bản án sơ thẩm gây bất lợi cho họ. Họ muốn rút để trốn tránh nghĩa vụ của mình. Nếu như vậy thì quyền và lợi ích của các đương sự khác sẽ bị xâm phạm. Bên cạnh đó, khi nguyên đơn khởi kiện thì các bên đương sự khác cũng như Tòa án phải chuẩn bị các hoạt động để tham gia tố tụng. Họ phải tốn thời gian, công sức và tiền bạc…để tiến hành các hoạt động tố tụng; nếu như nguyên đơn rút đơn khởi kiện và được tòa án chấp thuận thì quyền lợi của các đương sự khác cũng bị ảnh hưởng.


Thực trạng thực hiện

Ưu điểm

      Việc pháp luật quy định về các thủ tục mà tòa án áp dụng khi đương sự rút đơn khởi kiện tại tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm giúp cho các đương sự khi tham gia vào quan hệ tố tụng dễ dàng thực hiện được các quyền của mình, các thủ tục được quy định rõ ràng, chặt chẽ cũng giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng hơn trong việc thực hiện thẩm quyền của mình, bảo về quyền và lợi ích chính đáng của đương sự và đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự.

Hạn chế và một vài kiến nghị

      Thứ nhất, BLTTDS quy định về thủ tục nguyên đơn rút đơn khởi kiện còn chưa hợp lý, không có sự thống nhất giữa các cấp xét xử. Nếu như trong giai đoạn XXST khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Tòa án có quyền chấp thuận mà không cần hỏi ý kiến của các đương sự khác. Trong khi đó, ở cấp phúc thẩm, nguyên đơn chỉ có thể rút đơn khởi kiện khi có sự đồng ý của bị đơn. Vậy lý do nào dẫn đến sự khác biệt trong việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn ở hai cấp xét xử như vậy? Trong khi đó ở cả hai cấp xét xử các đương sự,  đặc biệt là Tòa án, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập  đã tham gia trực tiếp vào quá trình tố tụng.  Do đó BLTTDS cần có sự nghiên cứu, sửa đổi nhằm tạo ra sự thống nhất trong các cấp xét xử.

      Thứ hai, theo quy định trong giai đoạn XXST, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 217 BLTTDS. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 218 BLTTDS thì quyết định đình chỉ có thể bị đương sự kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Quy định này chưa hoàn toàn hợp lý do nếu như người kháng cáo quyết định này là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì sẽ không có vấn đề gì nhưng nếu chính nguyên đơn rút đơn kiện lại thực hiện quyền kháng cáo thì sẽ như thế nào? Bởi chính nguyên đơn là người đề nghị rút đơn kiện, không muốn tiếp tục giải quyết vụ án mà nay lại thực hiện quyền kháng cáo, muốn chống lại quyết định của mình. Quy định buộc Tòa án sẽ phải mở phiên tòa khác để giải quyết. Điều này khiến cho quá trình tố tụng kéo dài. Do đó Điều 244 BLTTDS cần quy định, tại phiên tòa sơ thẩm khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện và được Hội đồng xét xử chấp nhận thì họ không có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị. Vì vậy, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp này cần phải có hiệu lực ngay.

      Thứ tư, trong giai đoạn XXPT BLTTDS mới chỉ đề cập đến việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn mà chưa quy định về việc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan rút lại yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của mình. Vì xét trong từng mối quan hệ có thể coi các yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập như là đơn khởi kiện. Xét mối quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn có yêu cầu phản tố thì có thể coi bị đơn là nguyên đơn trong mối quan hệ này, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng tương tự như vậy. Đây là một trong các quyền tự định đoạt của đương sự do đó để thực hiện quyền này cũng như bảo đảm sự công bằng giữa các đương sự thì BLTTDS nên có quy định việc rút yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự khác như đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn XXPT.

       Trong khoa học pháp lý, luật TTDS được coi là luật hình thức của luật dân sự theo nghĩa rộng. Bởi luật TTDS chỉ quy định các trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc. Còn việc giải quyết nội dung vụ việc là do luật nội dung quy định. Quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung chính là cơ sở của quyền tự định đoạt của đương sự trong quan hệ pháp luật dân sự. Việc ghi nhận quyền rút đơn khởi kiện của đương sự ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm nhằm đảm bảo quyền dân chủ của công dân trong việc lựa chọn, gia các quan hệ dân sự liên quan đến lợi ích của mình và lựa chọn phương thức bảo vệ quyền đó.


       Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề: Phân tích thủ tục giải quyết trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và thực tiễn thực hiện. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

       Trân trọng ./.


 

RELATED ARTICLES
- Advertisment -

Bài viết xem nhiều

Recent Comments

phone-call