Đình chỉ thi hành án dân sự

Lý do chọn đề tài 

Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động đưa bản án, quyết định về dân sự của Tòa án,  Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành trên thực tế. THADS bảo đảm  cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp  luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi ích  của nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ  máy nhà nước. Chính vì vậy, Điều 106 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa  Việt Nam quy định: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ  quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp  hành”. 

Tuy nhiên, do tác động của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế, các giao lưu dân sự  trong nội bộ nhân dân và giữa các cơ sở kinh tế ngày càng mở rộng và đa dạng dẫn tới tình trạng số  vụ việc tranh chấp về dân sự và kinh tế ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung. Kết  quả là số lượng các bản án, quyết định phải thi hành ngày càng nhiều, tổng số tiền và hiện vật phải  thi hành ngày càng lớn, trong đó có nhiều vụ việc rất khó khăn, phức tạp trong việc tổ chức thi hành nên việc đìnhf chỉ thi hành án dân sự là một hệ quả tất yếu không thể tránh khỏi. Từ đó, công tác  thực tiễn ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự còn đang gặp rất nhiều khó khăn và bất cập do  nhiều nguyên nhân khách quan khác nhau. 

Từ những lý do trên khẳng định cho việc lựa chọn đề tài “Đình chỉ thi hành án dân sự” cho bài tiểu luận của tác giả sẽ góp phần đánh giá được thực trạng và những hạn chế, bất cập trong công  tác thi hành án dân sự trong và ngoài nước để từ đó tìm ra nguyên nhân, đưa ra các giải pháp nhằm  tháo gỡ những khó khăn và vướng mắc hiện nay.  

Tình hình nghiên cứu 

Đình chỉ thi hành án là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm trong giai đoạn xây dựng  nhà nước pháp quyền hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đình chỉ thi hành án dân sự: Thạc sĩ Lê Minh Nhựt và Thạc sĩ Nguyễn Minh Phú, “Hoàn thiện chế định đình chỉ thi hành án dân  sự theo pháp luật thi hành án dân sự việt nam”, tạp chí Nghề Luật, Học viện Tư Pháp (2020), Số  10; Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Văn Quảng (1996): “Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động  thi hành án dân sự ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Công Long (2000): “Các biện pháp  cưỡng chế thi hành án dân sự. Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”; Luận văn thạc sĩ của Lê  Xuân Hồng (2001): “Xã hội hóa thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Thủy  (2001): Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự”. Đây là những công trình nghiên cứu công  phu, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án ở Việt Nam.  Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ đề cập đến các vấn đề mang tính chung, còn vấn đề  mang tính thực tiễn riêng như đình chỉ thi hành án và các vấn đề liên quan đến việc đình chỉ thì chưa  được nghiên cứu và đề cập rõ ràng. Do vậy, việc lựa chọn đề tài “Đình chỉ thi hành án dân sự” được xem là một thách thức đối với tác giả và đầy hứa hẹn. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài này để  làm bài tiểu luận của mình. 

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ được thực tiễn của đình chỉ thi hành án dân sự bằng việc  nghiên cứu, phân tích những vụ việc cụ thể, đánh giá được những vướng mắc khó khăn hiện nay,  tìm ra được nguyên nhân của những vướng mắc. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm tháo  gỡ tình trạng án tồn đọng, đảm bảo mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án phải  được đưa ra thi hành. 

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề chủ yếu sau: ∙ Nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận về thi hành án dân sự, 

Phân tích những vụ việc điển hình và những vướng mắc đặt ra khi thực hiện quá trình thi  hành án. 

Đề xuất một số giải pháp nhằm tháo gỡ tình trạng án tồn đọng hiện nay, 

Phương pháp nghiên cứu 

Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 

Tác giả đã sử dụng các phương pháp thu thập thông tin, số liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp  và nghiên cứu thực tiễn. Đây là các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện đề  tài. 

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích, tổng hợp các quy định của pháp luật  về đình chỉ thi hành án, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật trong quá trình đình chỉ thi hành án. 

Kết cấu tiểu luận 

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của tiểu luận gồm 2  chương.  

Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về đình chỉ thi hành án dân sự Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về đình chỉ thi hành án dân sự

Nội dung

Những vấn đề lý luận của pháp luật về đình chỉ thi hành án dân sự

Lý luận chung về đình chỉ thi hành án dân sự  

Khái niệm về đình chỉ thi hành án dân sự  

Đình chỉ thi hành án dân sự là một thủ tục trong số các thủ tục được quy định trong Luật thi  hành án dân sự mà cơ quan THADS áp dụng để kết thúc việc thi hành án, chấm dứt trách nhiệm của  Chấp hành viên đối với việc thi hành án. Căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền của đình chỉ được  quy định cụ thể trong Luật THADS1. Pháp luật THADS hiện hành vẫn chưa đưa ra bất kỳ định  nghĩa thế nào là đình chỉ THADS. Theo tác giả, Luật THADS, các văn bản hướng dẫn thi hành cần  đưa ra định nghĩa về đình chỉ THADS để thống nhất trong cách hiểu. 

Để đưa ra định nghĩa này, tác giả sẽ xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau. Cụ thể, theo cách  hiểu thông thường, “đình chỉ” có nghĩa là “làm ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một  khoảng thời gian hoặc vĩnh viễn”2. Định nghĩa này nói lên mục đích của đình chỉ là làm cho một  hoạt động đang diễn ra bị ngừng lại. Tuy nhiên ngừng lại trong thời gian bao lâu, ngừng có thời hạn  nhất định hay ngừng hẳn thì không rõ. Ở góc độ từ ngữ pháp lý thì “Đình chỉ thi hành án” được  hiểu là “chấm dứt việc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật trong những trường hợp do pháp  luật quy định”3. Cách hiểu này đã xác định đối tượng của hoạt động đình chỉ là việc thi hành bản án  có hiệu lực pháp luật và phải dựa trên cơ sở pháp luật quy định. Tuy nhiên, định nghĩa này cũng  chưa cho biết thời gian chấm dứt việc thi hành án, cũng như đối tượng của hoạt động đình chỉ ngoài  bản án có hiệu lực pháp luật còn đối tượng nào khác hay không.  

Trong khoa học pháp lý hiện nay có một số định nghĩa về khái niệm đình chỉ THADS, chẳng  hạn như “Đình chỉ thi hành án dân sự là việc cơ quan thi hành án dân sự quyết định ngừng hẳn việc  thi hành án dân sự khi có căn cứ do pháp luật quy định”4 hay “Đình chỉ thi hành án dân sự là việc  cơ quan thi hành án dân sự mà cụ thể là Thủ trưởng cơ quan bằng một quyết định cụ thể làm chấm  dứt một quan hệ thi hành án cụ thể hay nói cách khác là chấm dứt vai trò của CHV đối với việc tổ  chức thi hành án đó khi có một trong các căn cứ do pháp luật quy định”5.  

Cả hai định nghĩa này cho thấy hậu quả của việc đình chỉ THADS là làm ngừng hẳn việc thi  hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan THADS. Ngừng hẳn được hiểu là chấm  dứt hoàn toàn quá trình thi hành án. Đây là điểm phân biệt giữa đình chỉ và hoãn, tạm đình chỉ thi  hành án dân sự (Trường hợp hoãn hay tạm định chỉ thì việc THA có thể khôi phục lại khi căn cứ  hoãn, tạm đình chỉ không còn). Ngoài ra việc đình chỉ chỉ được tiến hành khi có căn cứ luật định.  

Tuy nhiên, hai khái niệm này vẫn chưa nêu rõ chủ thể thực hiện và đối tượng của hoạt động  đình chỉ THADS. Từ đó, đình chỉ thi hành án dân sự có thể được hiểu là “Một thủ tục do Cơ quan  thi hành án dân sự tiến hành bằng một quyết định cụ thể nhằm làm ngừng hẳn việc thi hành bản án, 

  • 1 Điều 50 Luật thi hành án dân sự năm 2014  
  • 2 Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng, tr.197 3 Nguyễn Mạnh Hùng (2003), Thuật ngữ pháp lý – Tập 1, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.262 4 Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Thi hành án Dân sự, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.176 5 Lương Thanh Tùng (2013), Đình chỉ thi hành án dân sự, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, tr.27-32

quyết định dân sự của Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh khi có căn  cứ do pháp luật quy định”. 

Căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự  

Về cơ sở pháp lý, hiện nay các căn cứ để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án được quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự 6: 

CHV trong quá trình tổ chức thi hành vụ việc, bên cạnh việc làm tốt công tác xác minh một cách đầy đủ, kịp thời để nắm bắt được những thông tin cần thiết còn phải nắm rõ về trình tự, thủ tục xử lý các thông tin đó trước khi tham mưu cho Thủ trưởng đơn vị ra quyết định đình chỉ thi hành án. 

Trong phạm vi bài tiểu luận này, tác giả xin tập hợp tất cả các quy định của pháp luật có liên quan đến việc đình chỉ thi hành án, đồng thời phân tích qua một vài tình huống trên thực tiễn thi hành để người đọc có cách nhìn bao quát, áp dụng một cách đầy đủ và đúng đắn nhất tinh thần của điều luật. 

Theo quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự thì việc ra quyết định đình chỉ thi hành án khi có một trong các căn cứ đã được quy định là trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, tuy nhiên có những vụ việc do CHV khác tổ chức thi hành thì vấn đề đặt ra là CHV đó phải có trách nhiệm tham mưu, đề xuất với Thủ trưởng để ban hành quyết định đình chỉ thi hành án đúng với thời hạn đã được quy định là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ. Tuy nhiên, để việc tham mưu được hiệu quả và đúng quy định, đòi hỏi CHV phải nắm chắc các quy định của pháp luật liên quan để làm tốt các công đoạn xử lý thông tin thu thập được, trước khi đề xuất đình chỉ thi hành án. 

Thứ nhất, người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế 

Trong căn cứ thứ nhất này có hai vấn đề cần phân tích, làm rõ hai trường hợp khác nhau: Người phải thi hành án chết không để lại di sản 

Đối với cả các nghĩa vụ có thể chuyển giao hay không thể chuyển giao cho người khác, chỉ  cần xác định được người phải thi hành án đã chết (về mặt pháp lý nhất thiết phải có giấy chứng tử  

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp sau đây:

  1. Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định  không được chuyển giao cho người thừa kế; 
  2. Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được  chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế; 
  3. Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi  hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh  hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; 
  4. Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 103 của Luật này; đ) Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được  chuyển giao cho tổ chức khác; 
  5. Có quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án; 
  6. Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án; 
  7. Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã chết hoặc đã thành niên. 2. Thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ thi hành án theo quy định tại  khoản 1 Điều này.

của UBND cấp xã nơi người phải thi hành án chết cấp)7 mà không có di sản để lại thì hồ sơ thi hành  án chỉ cần thu thập được giấy chứng tử và biên bản xác minh tài sản của CHV là hoàn toàn có đủ  căn cứ ra quyết định đình chỉ thi hành án. 

Nghĩa vụ của người phải thi hành án theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người  thừa kế theo quy định của pháp luật 

Trong trường hợp này, đặc thù của loại nghĩa vụ của người phải thi hành án là được pháp luật  quy định nghĩa vụ đó chỉ gắn với người phải thi hành án mà không ai được thực hiện thay vì vậy dù  người phải thi hành án chết có để lại di sản đi nữa thì cũng không có giá trị gì, cơ quan Thi hành án  dân sự hoàn toàn có đủ căn cứ để ra quyết định đình chỉ thi hành án. Tuy nhiên, để tìm hiểu và thống  kê được hết các loại nghĩa vụ mà pháp luật quy định không được chuyển giao cho người khác không  phải là điều dễ dàng, tác giả chỉ xin nêu ra đây một quy định liên quan đến nghĩa vụ mà các cơ quan  Thi hành án thường xuyên phải tổ chức thi hành đó là nghĩa vụ cấp dưỡng8. 

Thứ hai, người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của  người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế 

Đối với căn cứ này cũng bao gồm hai trường hợp được đặt ra 

Pháp luật đã có quy định quyền và lợi ích của người được thi hành án theo bản án, quyết định  không được chuyển giao cho người khác 

Tương tự như quy định ở trên, ở đây là trường hợp quyền và lợi ích chỉ được trao cho một  người nhất định, người khác không thể thụ hưởng thay khi người đó chết đi. Trong quy định tại  khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình thì khi người được cấp dưỡng chết thì quyền được cấp  dưỡng cũng mất và quan hệ cấp dưỡng cũng sẽ chấm dứt. 

Quyền và lợi ích của người được thi hành án có thể chuyển giao cho người khác nhưng lại không  có người thừa kế thụ hưởng quyền này 

Để đình chỉ thi hành án thuộc trường hợp này, CHV sau khi xác định người được thi hành án  đã chết còn phải xác định rõ có hay không có những người thừa kế theo quy định trong Bộ luật Dân  sự9. Mặt khác theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 14: 

“Đối với trường hợp đình chỉ thi hành án do người được thi hành án chết mà không có người  thừa kế thì phải xác minh qua chính quyền địa phương, cơ quan quản lý hộ khẩu, nơi cư trú hoặc  nơi cư trú cuối cùng của người được thi hành án. Kết quả xác minh thông báo công khai trên  phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương để người có quyền, nghĩa vụ liên quan biết và bảo vệ lợi ích của họ. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo công khai hợp lệ mà không có người  khiếu nại thì được coi là có căn cứ đình chỉ thi hành án.” 

  • 7 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 
  • 8 Khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 
  • 9 Chương 23 và 24 Bộ luật dân sự 2015

Như vậy, nếu rơi vào trường hợp này, mặc dù đã xác định qua các cơ quan có thẩm quyền  rằng người được thi hành án không có người thừa kế thì CHV cũng không thể vội vàng đề xuất ra  quyết định đình chỉ thi hành án được mà phải thực hiện việc thông báo công khai nội dung xác minh  trên đài, báo ở Trung ương và phải đợi ít nhất là 30 ngày kể từ ngày thông báo hợp lệ mà không có  người khiếu nại thì mới có thể coi là có căn cứ đình chỉ được. Đây là một điểm hướng dẫn hoàn toàn  mới so với các hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 mà CHV khi thực hiện  cần lưu ý tuân thủ triệt để, tránh để xảy ra những khiếu nại của đương sự, người có quyền, nghĩa vụ  liên quan hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát liên quan đến việc đình chỉ thi hành án. 

Đình chỉ thi hành án dân sự
Đình chỉ thi hành án dân sự

Thứ ba, đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu  cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba 

Bản chất đây là một trường hợp thoả thuận trong thi hành án dân sự nên nội dung và hình  thức thoả thuận cũng phải tuân thủ các quy định chung về thoả thuận thi hành án. 

Một điểm rất quan trọng mà CHV cần lưu ý là dù nội dung thoả thuận có thế nào thì cũng  phải thể hiện được ý kiến thống nhất của cả người được thi hành án và người phải thi hành án là yêu  cầu cơ quan thi hành án không tiếp tục việc thi hành án nữa. Chỉ khi có nội dung này thì cơ quan thi  hành án mới có thể đình chỉ thi hành án mà không vướng phải những vấn đề phát sinh sau này do  các bên thay đổi ý kiến đã thoả thuận. 

Thực tiễn thi hành đã xảy ra trường hợp đương sự cùng nhau đến cơ quan Thi hành án yêu  cầu CHV lập biên bản thoả thuận thi hành án. Trong nội dung thoả thuận đã được CHV ghi nhận  trong biên bản là giữa các bên đã thống nhất được với nhau về việc thi hành án, theo đó bên phải thi  hành án sẽ tự giác thực hiện nghĩa vụ theo đúng bản án. Mặc dù không ghi nhận ý kiến của các bên  là yêu cầu cơ quan Thi hành án không tiếp tục tổ chức thi hành nữa nhưng CHV đã tham mưu Thủ  trưởng cơ quan ban hành quyết định đình chỉ thi hành án. Sau đó một thời gian, phía người được thi  hành án khiếu nại quyết định đình chỉ vì không có căn cứ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.  Trong tình huống này, CHV đã thiếu tinh ý trong việc thiết lập biên bản, lẽ ra cần giải thích rõ cho  đương sự biết nếu các bên đã thực sự thống nhất với nhau để tự thi hành thì phải thể hiện rõ quan  điểm là yêu cầu cơ quan Thi hành án không tiếp tục việc thi hành án nữa thì mới có thể đình chỉ, nếu  không chỉ là sự thoả thuận đơn thuần, nếu các bên không thực hiện đúng thoả thuận thì CHV phải  tiếp tục tổ chức thi hành theo quy định chung. Đây là một sai lầm đáng tiếc của Chấp hành viên, thể  hiện sự thiếu nhanh nhạy, bên cạnh đó là non kém về nghiệp vụ dẫn đến việc quyết định đình chỉ thi  hành án bị thu hồi và vụ việc vẫn phải tiếp tục thi hành, gây mất uy tín của cơ quan Thi hành án  đồng thời mất thời gian, kéo dài việc thi hành án. 

Người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan Thi hành án không tiếp tục tổ chức thi hành  nữa, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba 

Cũng tương tự như trong trường hợp trên, nhưng ở đây chỉ cần ý kiến đơn phương bằng văn  bản của người được thi hành án mà không cần phải là ý kiến thống nhất của cả hai bên đương sự.  Nội dung mà CHV cần thâu tóm trọng tâm vẫn phải là việc yêu cầu cơ quan Thi hành án không tiếp  tục tổ chức thi hành nữa. 

Thứ tư, Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ 

Đối với Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật (hoặc bản án, quyết định sơ  thẩm được đưa ra thi hành ngay theo quy định trong Luật Thi hành án dân sự10) và bản án, quyết  định phúc thẩm, cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành mà có kháng nghị theo thủ tục  giám đốc thẩm, tái thẩm thì nếu bản án chưa được thi hành xong một phần hoặc toàn bộ, thông  thường kèm theo Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ có nội dung tạm đình chỉ thi  hành án và khi đó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều  49 Luật Thi hành án dân sự. Sau khi có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm quyết  định huỷ một phần hay toàn bộ bản án mà cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành thì Thủ  trưởng cơ quan Thi hành án sẽ áp dụng căn cứ nêu trên để ra quyết định đình chỉ thi hành án. 

Như vậy cần lưu ý căn cứ “Bản án, quyết định đã bị huỷ một phần hoặc toàn bộ” để đình chỉ  thi hành án chỉ trong trường hợp Bản án, quyết định đó chưa được tổ chức thi hành xong toàn bộ và  Thủ trưởng cơ quan Thi hành án chỉ ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với phần bản án, quyết  định chưa được thi hành hoặc toàn bộ bản án, quyết định (nếu bản án, quyết định chưa thi hành được  phần nào). 

Thứ năm, người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy  định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác 

Trường hợp này gần tương tự trường hợp người phải thi hành án là cá nhân chết không để lại  di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được  chuyển giao cho người khác. Điểm khác biệt ở đây có thể thấy trong căn cứ thứ năm này bao gồm 3  điều kiện khác nhau mà phải thoả mãn đủ cả ba điều kiện đó thì cơ quan Thi hành án mới có thể  đình chỉ thi hành án, bao gồm: 

Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể 

Việc giải thể đối với tổ chức và xác định khi nào thì tổ chức được coi là giải thể được thực  hiện theo các quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động hoặc tại Điều lệ hoạt động của  chính tổ chức đó. Khi tổ chức thi hành án đối với trường hợp này, CHV cần nghiên cứu các quy  định tại Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng… và điều lệ của tổ chức đó để xác định và  thu thập căn cứ chứng minh tổ chức đó đã bị giải thể. Ngoài ra, CHV cũng có thể thu thập tại các cơ  quan quản lý hoạt động của các tổ chức đó như phòng Tài chính – kế hoạch, Sở kế hoạch – đầu tư  hoặc cơ quan quản lý cấp trên… 

Tổ chức sau khi đã giải thể không còn tài sản 

  • 10 Khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2014

Thông thường, trong quyết định hoặc thông báo giải thể, tổ chức bị giải thể bao giờ cũng có  kế hoạch để xử lý các khoản nợ. CHV cần nhanh nhạy trong việc nắm bắt kịp thời các thông tin này  và liên hệ trực tiếp với bộ phận phụ trách giải quyết nợ của tổ chức đó để có thể giải quyết nghĩa vụ  mà tổ chức đó phải thực hiện theo bản án, quyết định hoặc xác minh về các tài sản của tổ chức đó  sau khi giải thể để làm căn cứ xử lý tiếp theo. 

Nghĩa vụ của tổ chức đã bị giải thể theo quy định của pháp luật không được chuyển giao cho tổ  chức khác 

Tuỳ thuộc vào từng loại nghĩa vụ cụ thể theo Bản án, quyết định để CHV xác định nghĩa vụ  đó có thể được chuyển giao cho tổ chức khác thực hiện hay không hoặc cũng cần phải xác định có tổ  chức nào có thể tiếp nhận nghĩa vụ của tổ chức đã bị giải thể hay không. Nếu nghĩa vụ có thể  chuyển giao và cũng có tổ chức được chuyển giao nghĩa vụ thì CHV cần căn cứ quy định tại điểm d  khoản 1 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự thực hiện chứ không thể đình chỉ thi hành án được. 

Thứ sáu, có quyết định miễn hoặc giảm một phần nghĩa vụ thi hành án 

Căn cứ này tương đối rõ ràng và CHV cũng chỉ cần căn cứ quyết định miễn, giảm thi hành án  của Toà án để đề xuất đình chỉ thi hành án đối với toàn bộ nghĩa vụ được miễn hoặc phần nghĩa vụ  được giảm. 

Việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án hiện nay khi thực hiện căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết  số 24 của Quốc hội, Luật Thi hành án dân sự11, hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 07, Điều 26  Nghị định số 58, Thông tư liên tịch số 10. 

Thứ bảy, Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án 

Căn cứ này áp dụng đối với người phải thi hành án là Doanh nghiệp và hợp tác xã, trình tự,  thủ tục phá sản đối với các đối tượng này chịu sự điều chỉnh của Luật Phá sản năm 2004. 

Toà án khi thụ lý yêu cầu tuyên bố phá sản không thể biết rằng doanh nghiệp, hợp tác xã đó  đang phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định khác do đó không thể thông báo cho cơ quan  Thi hành án dân sự biết. Vì vậy, kỹ năng khi thi hành án đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã CHV  cần tận dụng mọi nguồn và kênh thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã  đang là đối tượng phải thi hành án. Có thể thông qua cơ quan quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã và  cả đối với Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác  xã đó để kịp thời nắm bắt thông tin sau đó xử lý theo đúng quy định. 

Cũng cần lưu ý, CHV cần thu thập được quyết định của Toà án về việc mở thủ tục phá sản  đối với người phải thi hành án để lưu vào hồ sơ thi hành án, tránh trường hợp nghe thấy thông tin  chưa phản ánh vào hồ sơ thi hành án đã đề xuất ra quyết định đình chỉ thi hành án là không triệt để. 

Thứ tám, người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành niên 

  • 11 Điều 61,62,63 và 64 Luật Thi hành án dân sự năm 2014

Về việc thi hành nghĩa vụ giao người chưa thành niên nuôi dưỡng có những đặc thù và khó  khăn nhất định. Do đó, Luật Thi hành án dân sự đã dự liệu đến tình huống việc kéo dài thời gian tổ  chức thi hành nghĩa vụ giao người chưa thành niên cho người khác nuôi dưỡng là điều tất yếu và cơ  chế để cơ quan Thi hành án dân sự có thể kết thúc việc thi hành án này là đình chỉ thi hành án khi  người được giao nuôi dưỡng đã thành niên. 

Trong thực tiễn hiện nay có một số CHV và cơ quan Thi hành án dân sự lúng túng trong việc  áp dụng căn cứ này khi rơi vào trường hợp nghĩa vụ theo bản án, quyết định là giao người chưa thành niên cho một người nuôi dưỡng, vụ việc đang trong giai đoạn tổ chức thi hành thì người chưa  thành niên chết. Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn hiện nay không có quy định nào  để giải quyết trường hợp này, bản thân tác giả cho rằng hoàn toàn có thể áp dụng tinh thần của căn  cứ thứ tám để ra quyết định đình chỉ thi hành án. 

Thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự 

Sau khi thu thập được một trong các căn cứ đã nêu ở trên, CHV cần lưu ý thời hạn đã được  quy định để đề xuất Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án trong thời hạn tối đa 05 ngày làm việc, kể từ ngày CHV xác minh, thu thập được những thông tin là căn cứ để  đình chỉ thi hành án. 

Quy định về đình chỉ thi hành án dân sự ở một số nước trên thế giới

Hệ thống cơ quan tư pháp nói chung, cơ quan thi hành án dân sự nói riêng, ở Châu âu luôn  được đầu tư nghiên cứu và cải cách, đổi mới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm thực hiện  quyền con người và các quyền cơ bản của công dân. Để có thêm kinh nghiệm quốc tế góp phần  thiện hệ thống tổ chức thi hành án dân sự ở Việt Nam, tác giả sẽ nêu và phân tích một số cơ chế đình  chỉ thi hành án dân sự cơ bản. 

Đình chỉ thi hành án dân sự do Chấp hành viên tư đảm nhiệm ở châu Âu

Ở Châu âu, có ít nhất bốn mô hình về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự tiêu biểu khác nhau 12. Yếu tố lịch sử và sự phát triển văn hóa ở mỗi quốc gia là lý do chính dẫn đến sự khác biệt về mô  hình tổ chức thi hành án dân sự giữa các quốc gia này. Lịch sử phát triển của lĩnh vực thi hành án  dân sự ở phần lớn các quốc gia Châu âu chứng minh rằng thủ tục thi hành án dân sự được coi là một  phần của thủ tục tố tụng tư pháp, theo đó thì Thẩm phán là người ra bản án, quyết định đình chỉ thi  hành án cũng chính là người có trách nhiệm tổ chức việc thi hành bản án, quyết định do mình ban  hành. Tuy nhiên, ở Cộng hòa Liên bang Đức, trách nhiệm của Thẩm phán trong việc thi hành bản án  do mình ban hành đã được bãi bỏ kể từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự Đức được thông qua. Mô hình thi  hành án dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức một phần giống mô hình của Pháp, theo đó Nhân viên  thi hành án hoặc có thể gọi là Chấp hành viên thi hành án hoạt động ngoài hệ thống tổ chức của Tòa  án. Ngày nay, sự phân biệt rõ ràng giữa thủ tục thi hành án dân sự với thủ tục tư pháp dường như là  

  • 12 Prof. Mads Andenas, Burkhard Hess and Paul Oberhammer (2005), Thực tiễn thi hành án dân sự ở Châu Âu, British Institute of  International and Comparative Law, tr. 33-36

đặc điểm phổ biến ở hầu hết hệ thống tư pháp của các nước13. Tuy nhiên, sự phân biệt này không có  nghĩa là sự bảo đảm của Hiến pháp đối với công tác thi hành án dân sự lại không được áp dụng.  Ngược lại, dưới góc độ Hiến pháp, thủ tục thi hành án dân sự và thủ tục tư pháp luôn có quan hệ mật  thiết với nhau 14.  

Ở Pháp, Benelux và Scotland (cũng như ở nhiều quốc gia Đông âu khác và ở Bồ Đào Nha),  việc thi hành án được thực hiện bởi nhân viên thi hành án (huissiers de justice), nhân viên thi hành  án được nhà nước bổ nhiệm nhưng hoạt động bên ngoài hệ thống Tòa án. Họ phải thực hiện nhiều  nhiệm vụ, trong đó bao gồm các dịch vụ về cung cấp tài liệu, tra cứu tài liệu trong những trường hợp  cụ thể và ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự. Ở Pháp, Thừa phát lại cũng được tổ chức như là  nhân viên công quyền hoạt động ngoài hệ thống Tòa án. Thẩm phán thi hành án cũng có thể can  thiệp vào quá trình tổ chức thi hành án. Ở những hệ thống tư pháp này, CHV có địa vị kinh tế cũng  như địa vị xã hội rất cao. Tuy nhiên song song đó, CHV tư là người ra quyết định đình chỉ thi hành  án dân sự cũng đồng thời sẽ là người chịu trách nhiệm cao nhất về vấn đề này. 

Đình chỉ thi hành án dân sự tại Hàn Quốc 

Tại Hàn Quốc, không có tổ chức độc lập nào để thi hành các quyết định của tòa án. Tòa án  quận chịu trách nhiệm về việc đình chỉ thi hành các án dân sự. Trong việc thi hành án dân sự, nhân  viên thi hành án vốn là các nhân viên độc lập, không nằm trong ngành Tư pháp và thuộc các Tòa án  quận, sẽ tham gia thi hành các bản án và tống đạt giấy tờ. Tuy không phải là công chức đúng nghĩa,  nhân viên thi hành án được đặt dưới sự giám sát của Chánh án Tòa án quận có thẩm quyền. Chánh  án Tòa án quận bổ nhiệm nhân viên thi hành án từ những người đã phục vụ với tư cách công chức  trong một thời gian nhất định tại các tòa án hoặc các văn phòng công tố. Trong việc đình chỉ thi  hành án dân sự, nhân viên thi hành án – những người không nhận lương từ tòa án mà từ bên liên  quan do không phải là công chức đúng nghĩa – chịu trách nhiệm thi hành án dân sự. 

Kết luận 1

Sự phát triển của mô hình tổ chức thi hành án dân sự ở các nước cũng như Việt Nam hiện nay  mặc dù về chi tiết cũng có những nét tương đồng mô hình thi hành án dân sự của các nước trên thế  giới. Về cơ bản, đình chỉ thi hành án là một trong những cơ chế kết thúc việc thi hành một phần  hoặc toàn bộ bản án, quyết định, nó chấm dứt một phần hoặc toàn bộ quan hệ thi hành án dân sự, vai  trò của Chấp hành viên đối với nghĩa vụ đã có quyết định đình chỉ thi hành cũng chấm dứt. Xuất  phát từ tính chất, ý nghĩa của việc đình chỉ thi hành án mà các căn cứ để có thể đình chỉ thi hành án  tương đối chặt chẽ, các Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án cần hết sức thận trọng,  hiểu và thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật thi hành án nói riêng và phải có óc vận  dụng các quy định của pháp luật có liên quan nói chung để tránh xảy ra việc nóng lòng muốn kết  thúc hồ sơ thi hành án mà vội vàng đề xuất, tham mưu đình chỉ thi hành án khi chưa có đầy đủ thông    

  • 13 Ngoại lệ: Tây Ban Nha, Đan Mạch và ở một mức độ nào đó ở Anh và Ireland. 
  • 14 European Court of Human Rights (19 Mar 1997), Hornsby v Greece, ECHR Reports 1997 II 495; 11 Jan 2001, Lunari v Italy,  ECHR Reports 2001. VN Frice’ro ‘Le droit Europeen a I’exe’cution des Jugments’ (2002) Revue des Husissiers de Justice 6

tin theo các căn cứ đã được quy định. Để từ đó, Chương 1 sẽ là tiền đề, nền tảng kiến thức quan  trọng cho việc tìm hiểu các hạn chế đó thông qua các vụ án thực tế ở tại Chương 2.

Thực tiễn áp dụng các quy định về đình chỉ thi hành án dân sự

Về căn cứ đình chỉ, Luật THADS quy định tám căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự tại Điều  50 Luật THADS. Các quy định về các căn cứ đình chỉ THADS hiện nay tương đối hoàn thiện. Tuy nhiên, trên thực tiễn khi áp dụng các quy định này vẫn còn tồn tại một số bất cập, vướng mắc cần  được giải quyết, cụ thể như sau: 

Việc đình chỉ thi hành án liên quan đến người thứ ba 

Theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS, đương sự có thỏa thuận bằng văn  bản hoặc người được thi hành án có yêu cầu cơ quan THADS đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn  bộ quyền, lợi ích hợp pháp được hưởng theo bản án, quyết định thì cơ quan THADS ra quyết định  đình chỉ THA, trừ trường hợp việc đình chỉ THA ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người  thứ ba. Như vậy điều kiện không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba là bắt  buộc nếu muốn áp dụng căn cứ này. Tuy nhiên Luật THADS lại không cho biết người thứ ba là ai  và tiêu chí để xác định. Điều này đã gây không ít khó khăn cho cơ quan THADS khi áp dụng căn cứ  này để đình chỉ, cụ thể qua vụ việc sau: Vụ án tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản giữa  nguyên đơn là vợ chồng bà Trịnh Thị S, người được thi hành án của 03 quyết định công nhận hòa  giải thành số 02/DSST, số 05/DSST, số 06/DSST ngày 20/09/2015 của Tòa án nhân dân thành phố  H với các bị đơn là vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị C với số tiền  phải trả là 900 triệu đồng và lãi chậm thi hành án. Đồng thời, bà Trịnh Thị S cũng là người phải thi  hành án theo 02 bản án số 11/DSST và số 12/DSST ngày 24/03/2014 với số tiền phải nộp án phí dân  sự sơ thẩm của hai bản án là gần 100 triệu đồng.  

Đình chỉ thi hành án dân sự
Đình chỉ thi hành án dân sự

Vấn đề đặt ra trong vụ việc trên đó là tiêu chí xác định người thứ ba bị ảnh hưởng quyền và  lợi ích hợp pháp. Chẳng hạn, nếu bà S từ bỏ quyền lợi của mình khi không còn tài sản gì để thi hành  án thì có ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người thứ ba là Nhà nước đối với phần án phí hay  không, người thứ ba có phải là người có quyền lợi trong cùng một vụ việc thi hành án hay bất kỳ ai  có quyền, lợi ích bị ảnh hưởng, tiêu chí xác định người thứ ba như thế nào? Trên thực tế, có hai  quan điểm khác nhau về người thứ ba:  

Quan điểm thứ nhất cho rằng việc xác định người thứ ba phải là người có quyền lợi liên quan  đến người được THA trong cùng một việc thi hành án. 

Quan điểm thứ hai cho rằng người thứ ba ở đây được xác định là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào  (kể cả Nhà nước) mà khi cơ quan THADS đình chỉ THA thì sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp  pháp của họ, quyền và lợi ích hợp pháp này phải được pháp luật bảo vệ. Như vậy, người thứ ba  không giới hạn trong cùng một việc THA, có thể là bất kỳ ai có quyền, lợi ích bị ảnh hưởng. Về mặt  văn bản pháp luật thi hành án dân sự, hiện nay không có câu trả lời. Hiện nay trong Luật THADS có  quy định về người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan, theo đó tại Điều 3 Luật THADS quy định người  có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực  

  • 15 Lê Thị Lanh (2019), “Những quan điểm khác nhau về đình chỉ thi hành án”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr.23-25.

tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự. Khái niệm này với khái niệm  Người thứ ba có thể bị nhầm lẫn. Vì vậy cần thiết phải phân biệt hai khái niệm này.  

Theo tác giả, người thứ ba cần được hiểu rộng hơn và có các tiêu chí để xác định như sau:  

Có quyền, lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng từ thỏa thuận, yêu cầu đình chỉ thi hành án của  đương sự. Như vậy, người thứ ba không có nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án, mà chỉ có quyền  và lợi ích hợp pháp, trong khi đó người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có nghĩa vụ liên  quan đến việc thi hành án.  

Về phạm vi chủ thể: người thứ ba không giới hạn trong phạm vi cùng một việc thi hành án,  mà có thể ở một hoặc nhiều việc thi hành án dân sự khác nhau hoặc có thể bất kỳ ai có quyền, lợi ích  hợp pháp liên quan, kể cả Nhà nước. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giới hạn trong phạm vi  một việc thi hành án dân sự nhất định và chỉ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp  đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.  

Về cách thức xác định: dựa vào sự tự nguyện khai báo của đương sự hoặc qua rà soát của  Chấp hành viên hoặc người thứ ba này gửi đơn không đồng ý việc thỏa thuận, đơn yêu cầu đình chỉ  của đương sự. Theo tác giả, để áp dụng thống nhất pháp luật cần sớm có văn bản hướng dẫn về định  nghĩa, tiêu chí, cách thức xác định người thứ ba. 

 

Căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự liên quan đến vật đặc định 

Trên thực tế, phát sinh trường hợp thi hành nghĩa vụ trả vật đặc định nhưng vật đặc định  không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được nhưng đương sự không thỏa thuận được  về việc THA, mặc dù CHV đã hướng dẫn nhưng đương sự không thực hiện việc khởi kiện để bảo vệ  quyền lợi của mình, cũng như không rút yêu cầu thi hành án. Điều này gây không ít khó khăn cho  cơ quan THADS khi không có căn cứ để kết thúc việc thi hành, trong khi nếu kéo dài vụ việc thì  cũng không thể giải quyết được.  

Theo quy định của BLDS năm 2015, vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng  những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí. Khi thực hiện nghĩa  vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó16.  

Trong THADS, việc thi hành đối với nghĩa vụ là vật đặc định thì CHV sẽ áp dụng biện pháp  cưỡng chế trả vật nếu vật phải trả hiện đang còn tồn tại. Nếu vật phải trả không còn thì CHV không  áp dụng biện pháp cưỡng chế trả vật. Trường hợp vật không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể  sử dụng được mà đương sự có thỏa thuận khác về việc thi hành án thì CHV thi hành theo thỏa thuận.  Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về  thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không còn sử dụng được.  

Trước đây, theo Luật THADS năm 2008 trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì  Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định trả đơn yêu cầu THA. Đương sự có quyền khởi kiện yêu  

  • 16 Điều 113 BLDS năm 2015 
  • 17 Điều 114 Luật THADS năm 2014

cầu Tòa án giải quyết thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng  được. Nhưng Luật THADS hiện hành đã bỏ cơ chế trả đơn yêu cầu THA và không quy định căn cứ  đình chỉ trong trường hợp này. Cách xử lý hiện nay đó là Cơ quan THADS sẽ căn cứ điểm b Khoản  1 Điều 44a Luật THADS CHV đề nghị Thủ trưởng cơ quan THADS ra Quyết định về việc chưa có  điều kiện THA. Theo tác giả, cách xử lý này là chưa hợp lý về mặt thực tiễn và pháp luật, bởi các lý  do sau:  

Thứ nhất, việc THADS chưa có điều kiện thi hành là những việc mà tại thời điểm này chưa  có điều kiện để thi hành nhưng khả năng trong tương lai có thể có điều kiện để THA trở lại. Đối với  trường hợp tại thời điểm thi hành vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ được xác định đã bị hư  hỏng đến mức không thể sử dụng được thì đã xác định được khả năng để thi hành nghĩa vụ đó trên  thực tế không còn, việc tiếp tục THA không thể thực hiện được. Nếu đưa vụ việc vào diện chưa có  điều kiện THA sẽ làm án tồn đọng kéo dài, không phù hợp với điều kiện thực tế.  

Thứ hai, BLDS năm 2015 có quy định về căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự, trong đó có quy  định “vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác”18.  Theo đó bên có nghĩa vụ được chấm dứt trách nhiệm với bên có quyền, hay nói cách khác người  phải THA sẽ không còn trách nhiệm với người được THA nữa trong trường hợp này.  

Thứ ba, trường hợp sau khi đình chỉ thi hành nghĩa vụ trả vật đặc định, đương sự khởi kiện  tại Tòa án và được thụ lý giải quyết bằng một bản án khác thì Cơ quan THADS thực hiện việc tổ  chức thi hành vụ việc theo quyết định của Tòa án theo bản án mới tuyên, như vậy quyền lợi của  đương sự vẫn được đảm bảo trên thực tế.  

Từ các phân tích trên, tác giả kiến nghị bổ sung thêm căn cứ đình chỉ THA trong trường hợp  vật đặc định không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được vào Điều 50 Luật THADS  để phù hợp với thực tiễn và phù hợp với các quy định của BLDS năm 2015. Mặc khác để đồng bộ  pháp luật cần bỏ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 44a về căn cứ xác định việc chưa có điều kiện thi  hành án trong trường hợp vật đặc định không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được.  

Đình chỉ thi hành án trong trường hợp bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một

Về đình chỉ thi hành án trong trường hợp bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một.  Tại Khoản 4 Điều 372 BLDS năm 2015 quy định trường hợp “bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa  nhập làm một” là căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên Luật THADS không quy định trường  hợp này là căn cứ đình chỉ THADS.  

Ví dụ tình huống sau: Công ty A là người được thi hành án, Công ty B là người phải thi hành  án. Cơ quan THADS đã ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu, theo đó B có nghĩa vụ trả cho  A số tiền 5 tỷ đồng. Trong quá trình thi hành án, Công ty B sáp nhập vào Công ty A. Theo quy định  của pháp luật sau khi nhận sáp nhập, Công ty A sẽ kế thừa quyền và nghĩa vụ của Công ty B. Công  ty B chấm dứt hoạt động.  

  • 18 Điều 372 BLDS năm 2015.

Trong tình huống này bên có quyền và bên có nghĩa vụ đã hòa nhập làm một. Tuy nhiên Luật  THADS không quy định đây là căn cứ đình chỉ, nếu muốn đình chỉ Cơ quan THADS chỉ có thể yêu  cầu Công ty A làm đơn yêu cầu đình chỉ thi hành án. Đặt trường hợp Công ty A không làm đơn yêu  cầu thì giải quyết như thế nào?  

Nếu căn cứ vào quy định tại điểm đ Điều 50 Luật THADS “Người phải thi hành án là tổ  chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được  chuyển giao cho tổ chức khác” thì không thể đình chỉ được vì nghĩa vụ của Công ty B đã chuyển  sang cho Công ty A. Do đó, Công ty A không thể yêu cầu chính mình thực hiện nghĩa vụ. Do vậy,  để phù hợp với thực tiễn và đồng bộ với các quy định của BLDS năm 2015 về căn cứ chấm dứt  nghĩa vụ, tác giả kiến nghị bổ sung thêm trường hợp bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập  thành một. 

Việc đình thi hành án khi người phải thi hành án là tổ chức giải thể 

Việc đình chỉ thi hành án khi người phải thi hành án là tổ chức giải thể. Theo quy định tại  điểm đ Khoản 1 Điều 50 Luật THADS “Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn  tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác” là căn cứ đình chỉ thi hành án. Tuy nhiên, quy định này có mâu thuẫn với Luật doanh nghiệp 2020,  cụ thể ở vấn đề chuyển giao nghĩa vụ. Theo Luật doanh nghiệp 2020 có quy định trường hợp doanh  nghiệp bị giải thể do bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh  nghiệp thì nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho các cá nhân là người quản lý có liên quan19.  Luật THADS chỉ mới đề cập đến việc chuyển giao cho tổ chức là chưa phù hợp.  

Như vậy, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung vào điểm đ, Khoản 1 Điều 50 Luật THADS.  Đồng thời, với mục đích đồng bộ pháp luật, cần sửa đổi, bổ sung điểm d Điều 54 Luật THADS. Từ  đó, các quy định của Luật THADS sẽ trùng khớp với Luật Doanh nghiệp hơn, tránh các hiện tượng  chồng chéo điều luật dẫn đến cơ quan thi hành khó khăn trong việc ra quyết định. 

Đình chỉ thi hành án khi người được giao nuôi dưỡng chết hoặc đã thành niên

Đình chỉ thi hành án khi người được giao nuôi dưỡng chết hoặc đã thành niên. Trong vụ việc  ly hôn sẽ đặt ra vấn đề giải quyết việc nuôi con sau khi ly hôn. Cụ thể bản án, quyết định của Tòa án  sẽ xác định ai là người chăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã  thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình20. Theo đó đối tượng được giao nuôi dưỡng bao gồm:  

Con chưa thành niên;  

Con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và  không có tài sản để tự nuôi mình.  

  • 19 Điều 207, 209 Luật doanh nghiệp năm 2020 
  • 20 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Tuy nhiên, theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 50 Luật THADS chỉ mới quy định căn cứ  đình chỉ trong trường hợp “Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định  đã chết hoặc đã thành niên”. Đối với trường hợp con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân  sự nhưng đã có năng lực hành vi dân sự trở lại hoặc có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi  mình thì có đình chỉ THADS hay không? Đây là quy định thiếu sót của Luật THADS. Do đó, tác giả  kiến nghị bổ sung thêm trường hợp “Con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc  không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” để đồng nhất với Luật Hôn nhân  và gia đình, đảm bảo quyền lợi chính đáng của con. 

Kết luận 2 

Ở chương 2, tác giả đã trình bày về thực trạng áp dụng pháp luật, các điểm cần lưu ý về các  quy định chung về đình chỉ thi hành án dân sự. Đồng thời nhận thấy nhiều khó khăn thực tế trong  việc áp dụng pháp luật. Do đó, tác giả chỉ ra được những điểm hạn chế và các kiến nghị hoàn thiện  pháp luật với mong muốn bảo vệ các bên đương sự khi tham gia quan hệ pháp luật và những người  có quyền và nghĩa vụ liên quan. 

Kết luận chung 

Đề tài “Đình chỉ thi hành án dân sự” là một đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao. Trong khoảng  một tuần ngắn ngủi, mặc dù còn hạn chế về nhiều mặt nhưng tác giả đã nỗ lực hoàn thành đề tài một  cách chỉn chu nhất. Đình chỉ thi hành án dân sự (THADS) là một thủ tục được quy định trong Luật  thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật THADS) mà Cơ quan thi hành  án dân sự (Cơ quan THADS) áp dụng để kết thúc việc thi hành án, hay nói khác là chấm dứt quan  hệ pháp luật thi hành án dân sự. Việc đình chỉ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định, ảnh hưởng  đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, vì vậy pháp luật quy định Cơ quan THADS không được  tùy tiện đình chỉ mà phải dựa trên căn cứ luật định. Đề tài đã đi vào tìm hiểu các quy định của pháp  luật về đình chỉ thi hành án dân sự, liên hệ với pháp luật một số nơi trên thế giới, đồng thời tìm ra  thực trạng và đề tài cũng đã đề xuất, đóng góp các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.  Mong rằng, đề tài này có thể có ích cho quá trình học tập của các bạn sinh viên cũng như những  người quan tâm đến vấn đề này.


Danh mục tài liệu tham khảo

  1. Văn bản pháp luật 
  2. Bộ luật dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015; 
  3. Luật Thi hành án dân sự (Số: 12/VBHN-VPQH) ngày 11/12/2014; 
  4. Luật Hôn nhân và gia đình (Luật số 52/2014/QH13) ngày 19/6/2014; 
  5. Luật Doanh nghiệp (Luật số: 59/2020/QH14) ngày 17/6/2020. 
  6. Tài liệu tham khảo  
  7. Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Đà  Nẵng; 
  8. Nguyễn Mạnh Hùng (2003), Thuật ngữ pháp lý – Tập 1, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà  Nội; 
  9. Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Thi hành án Dân sự, Nhà xuất bản Công an  nhân dân; 
  10. Lương Thanh Tùng (2013), Đình chỉ thi hành án dân sự, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ  Tư pháp; 
  11. Lê Thị Lanh (2019), Những quan điểm khác nhau về đình chỉ thi hành án, Tạp chí Dân chủ  và Pháp luật. 
  12. Tài liệu tiếng nước ngoài 
  13. Prof. Mads Andenas, Burkhard Hess and Paul Oberhammer (2005), Thực tiễn thi hành án dân  sự ở Châu Âu, British Institute of International and Comparative Law; 
  14. European Court of Human Rights (19 Mar 1997), Hornsby v Greece, ECHR Reports 1997 II  495; 11 Jan 2001, Lunari v Italy, ECHR Reports 2001. VN Frice’ro ‘Le droit Europeen a  I’exe’cution des Jugments’ (2002) Revue des Husissiers de Justice 6.

Trên đây là toàn bộ vấn đề giải đáp thắc mắc của mình về vấn đề: Đình chỉ thi hành án dân sự. Trong quá trình giải quyết nếu có vấn đề gì thắc mắc hoặc chưa rõ bạn có thể liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật miễn phí của Luật Quang Huy qua HOTLINE 19006588 để được hỗ trợ chi tiết.

Trân trọng./.

phone-call

GỌI HỎI ĐÁP MIỄN PHÍ

Scroll to Top