Chế tài dành cho tội phạm xâm phạm đến tính mạng con người

      Tại Việt Nam, pháp luật ra đời từ rất sớm và không ngừng được chú trọng hoàn thiện nhằm thiết lập một hệ thống thống nhất, phù hợp với tình hình xã hội trong nước và quốc tế. Hiện nay, hệ thống pháp luật đã điều chỉnh được rộng khắp các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong đó có thể thấy được rằng Luật hình sự Việt Nam là một bộ phận không thể thiếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ trật tự xã hội, an ninh quốc gia, các chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa.., các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân… Luật hình sự đích thực là công cụ sắc bén để đấu tranh phòng, chống tội phạm, đem lại một môi trường an sinh lành mạnh cho công dân. Để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống tội phạm, luật hình sự Việt Nam đã quy định  nhiều chế định khác nhau điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành luật hình sự. Tuy nhiên hiện nay, mặc dù đã có nhiều quy định của pháp luật quy định những nguyên tắc xử sự chung, nhiều quy định quy định các chế tài nghiêm khắc nhưng tỉ lệ tội phạm ở nước ta vẫn đang ở mức báo động và một trong số những tội phạm ngày càng trở nên nghiêm trọng, cần được xem xét giải quyết kịp thời là những tội phạm xâm phạm tính mạng của con người.Qua bài viết này chúng tôi Luật Quang Huy sẽ đi sâu phân tích và tìm hiểu vấn đề: chế tài dành cho tội phạm xâm phạm đến tính mạng con người


Danh sách tài liệu tham khảo

  •  Giáo trình Luật hình sự Việt Nam/ Trường Đại học Luật Hà Nội/Nxb Công an nhân dân
  • Bộ luật hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2009)/ Nxb Lao động
  • Bộ luật hình sự Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016)/ Nxb Lao động
  • Từ điển Luật học
  • Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự phần chung/ GS.TSKH Lê Văn Cẩm
  • Luận văn thạc sỹ luật học Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam/ Đỗ Đức Hồng Hà.
  • Mô hình luật hình sự Việt Nam

 Xây dựng tình huống

     Thắng (22 tuổi, trú huyện Khoái Châu, Hưng Yên) là tài xế xe tải, có xích mích với phụ lái là Toán (37 tuổi, cùng quê). Ngày 26/10/2011, khi xe đến địa phận Thanh Hóa thì Thắng và Toán cãi nhau gay gắt. Thắng đuổi Toán xuống xe, Toán đuổi theo và bám vào cửa xe (phía bên Thắng đang cầm lái). Thắng xô mạnh cửa xe làm Toán ngã xuống đường, Toán bị xe cán qua người.

      Chạy thêm chừng 300m, Thắng bỏ xe, chạy trốn. Toán bị dập nát hai chân và chết. Tội của Thắng đã thực hiện được quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS.

chế tài dành cho tội phạm xâm phạm đến tính mạng con người

Giải quyết các câu hỏi bài tập

CTTP được quy định tại khoản 2 Điều 93 BLH là CTTP cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ của tội giết người? Tại sao?

     Trích khoản 2 Điều 93 BLHS :

     Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

     Trước khi có thể xác định được khoản 2 Điều 93 thuộc CTTP gì trước hết ta phải tìm hiểu thế nào là CTTP, có những CTTP nào, căn cứ xác định ra sao?

       CTTP được định nghĩa là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho một loại tội phạm cu thể được quy định trong bộ luật hình sự (khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS).

      Để phân loại CTTP có nhiều cách khác nhau, trong đó theo giáo trình luật hình sự Việt Nam/ trường Đại học Luật Hà Nội có thể dựa vào cơ sở mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để phân loại. Như vậy, dựa vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, CTTP được chia làm ba loại sau:

      CTTP cơ bản: là CTTP chỉ có dấu hiệu định tội- dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tôi khác.

      CTTP tăng nặng: là CTTP mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể ( so với tội phạm bình thường)

       CTTP giảm nhẹ: là CTTP mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể (so với tội phạm bình thường).

   Như vậy, dựa vào các cơ sở lý thuyết trên, ta khẳng định khoản 2 Điều 93 BLHS là CTTP cơ bản, vì:

   So với khoản 1 của điều luật này, khoản 1 Điều 93 BLHS là CTTP tăng nặng do dễ dàng nhận thấy khoản này quy định nhiều tình tiết được coi là tăng lên một cách đáng kể mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có thể kể đến như: Giết phụ nữ mà biết là có thai; giết trẻ em; thực hiện tội phạm một cách man rợ..vv..Bên canh đó, xét về mức độ hình phạt, khoản 1 quy định hình phạt cao hơn (từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình), khung hình phạt này tương ứng với mức độ tội đặc biệt nghiêm trọng(theo khoản 3 Điều 8 BLHS). Còn ở khoản 2, luật chỉ nêu lên những dấu hiêu cơ bản (có thể hiểu khoản này  là người nào giết người nhưng không thuộc các trường hợp có tình tiết tăng lên một cách đáng kể mặc độ nguy hiểm của hành vi được quy định tại khoản 1), không có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy tình tiết nào làm giảm nhẹ đáng kể mức độ nguy hiểm của hành vi giết người hoặc tăng lên một cách đáng kể mức độ nguy hiểm của hành vi. Và theo tham khảo từ điển luật học: “Giết người trong trường hợp bình thường có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Giết người trong trường hợp tăng nặng có mức phạt từ từ 12 đến 20 năm”

     Vậy, khoản 2 Điều 93 BLHS là CTTP cơ bản.

Lỗi của Thắng trong trường hợp này là gì? Tại sao?

     Cơ  sơ pháp lý: Lỗi là một dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm. Xác định lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Theo pháp luật hình sự Việt Nam không có lỗi đồng nghĩa với không có tội phạm, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chế tài dành cho tội phạm xâm phạm đến tính mạng con người
Chế tài dành cho tội phạm xâm phạm đến tính mạng con người

    Trong đó (trích từ giáo trình luật hình sự Việt Nam- Đại học luật Hà Nội trang 136): lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Lý trí và ý chí là hai yếu tố cần thiết để cấu thành nên lỗi. Lỗi của tội phạm được chia ra cụ thể như sau:( Điều 9 BLHS)

      Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra .

      Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

       Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tôi tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hại đó.

        Lỗi vô ý do cẩu thả là trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước được hậu quả hành vi mình gây ra, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước.

          Có ý kiến cho rằng: Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết của người khác một cách trái pháp luật do một người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện ( Luận văn thạc sỹ luật hoc “Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam”/ Đỗ Đức Hồng Hà). Điều đó cho thấy tội giết người là tội cố ý.

        Dựa vào tình huống của đề bài để phân tích ta thấy rằng: mối quan hệ giữa Thắng và Toán có căng thẳng từ trước, sau khi cãi nhau gay gắt, mâu thuẫn được đẩy lên cao. Tuy nhiên ngay trong lúc mẫu thuẫn gay gắt Thắng chỉ đuổi Toán xuống xe mà không hề nảy ra ý định giết Toán, không hề có xô xát. Đây là phản ứng rất bình thường của một người đang tức giận. Tình tiết hai người cãi nhau gay gắt đến mức không muốn nhìn mặt nhau, không thể dung hòa được thì cũng đồng nghĩa với việc không thể dễ dàng nguôi ngoai. Chính vì thế nên khi Toán chạy theo và bám vào cửa xe (phía bên Thắng cầm lái), Thắng đã xô cửa làm Toán ngã xuống đường, bị xe cán qua, dập nát hai chân rồi tử vong sau đó. Về phần Thắng, Thắng vẫn tiếp tục chạy xe khoảng 300m nữa rồi bỏ chạy trốn.

          Như vậy, xét về lý trí, Thắng là tài xế xe tải lại đã 22 tuổi. Thăng hoàn toàn có khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, cũng hoàn toàn thấy được hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra. Nhưng cũng có thể thấy, hậu quả Toán bị xe cán dập nát hai chân không phải là hậu quả chắc chắn xảy ra, luôn luôn xảy ra. Hay nói cách khác, không phải trong mọi trường hợp cứ bị xô cửa ngã ra đường là nạn nhân bị xe cán qua rồi dẫn đến tử vong. Hậu quả Toán bị chết chỉ là hậu quả có thể xảy ra.

       Xét về ý chí, Thắng là người có đủ mọi điều kiện để hoàn toàn có thể thấy trước được hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra  nhưng do quá bức xúc, tức giận nên Thắng đã có thái độ để mặc hậu quả xảy ra tức Toán có chết cũng chấp nhận chứ không phải mong muốn cho hậu quả Toán chết. Nếu như Thắng mong muốn, có ý định làm Toán chết thì Thắng sẽ không đuổi Toán xuống xe rồi lái xe đi vì Thắng không thể nào nắm chắc 100% Toán sẽ chạy theo bám đúng vào cửa xe nơi Thắng cầm lái để xô cửa cho Toán ngã đúng vào nơi bánh xe tải cán qua và Thắng cũng không có đủ thời gian để suy tính nhiều khả năng trường hợp xảy ra như vậy.

        Như vậy lỗi của Thắng ở trường hợp này là lỗi cố ý gián tiếp.

Phát biểu sau về vụ án đúng hay sai? Hãy giải thích: Nếu Thắng không bỏ trốn mà đến ngay cơ quan công an gần nhất để khai báo thì sẽ được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

    Điều 19 BLHS quy định:

    Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm tới cùng, tuy không có gì ngăn cản…

   Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cố ý đã không thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản với thái độ là tự nguyện và dứt khoát.

    Trong trường hợp tình huống trên, nếu Thắng không bỏ chay mà đến ngay cơ quan công an gần nhất để trình báo  tuy là có yếu tố tự nguyện, dứt khoát nhưng đây không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, bởi xét thấy: Việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ có thể xác định trong trường hợp người phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp. Người có lỗi cố ý trực tiếp mới là người có sẵn ý định trong đầu về việc thực hiện hành vi phạm tội, mong muốn hậu quả xảy ra, thực hiện mọi hành vi để hậu quả xảy ra nên sẽ có thể có các giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và để trong quá trình đó có khả năng tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Còn ở đây, Thắng có lỗi cố ý gián tiếp, bản thân Thắng không mong muốn hậu quả xảy ra nên khi thực hiện hành vi không có sự chuẩn bị trước, nên không có tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

   Như vậy khẳng định trên là sai.

Giả sử Thắng đã phạm tội cố ý gây thương tích, bị phạt 2 năm tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 4 năm. Sau khi chấp hành được 3 năm thử thách, Thắng phạm tội giết người nêu trên và bị phạt 10 năm tù thì hình phạt tổng hợp đối với Thắng là bao nhiêu năm tù?

      Khoản 1Điều 60 BLHS quy định:

       Khi xử phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

       Khoản 5 Điều 60 BLHS quy định:

      Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tạo Điều 51 của Bộ luật này.

        Hiện này có một số quan điểm cho rằng án treo là thuật ngữ được dùng để chỉ  một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định (theo GS.TSKH Lê Văn Cẩm trong“Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự phần chung”). Hoặc theo từ điển luật học Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Và về cơ bản thì 2 ý kiến này thống nhất với nhau.

       Dựa trên cơ sở của pháp luật áp dụng vào trường hợp của Thắng, Thắng đã phạm tội cố ý gây thương tích phạt 2 năm tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 4 năm. Chưa hết thời hạn ( mới chấp hành được hơn 3 năm) Thắng đã phạm tội mới, bất kể tội mới là gì lỗi cố ý hay vô ý và tội mới bị Tòa án áp dụng hình phạt nào thì Thắng cũng sẽ bị Tòa quyết định buộc phải chấp hành bản án đã cho treo là 2 năm tù và sẽ tổng hợp bản án đó với bản án sau. Tại trường hợp nêu trên bản án sau của Thắng là 10 năm tù thì hình phạt của Thắng sẽ được tổng hợp lại là : 10+2=12 năm tù ( tổng hợp theo quy định tại Điều 51 BLHS)

Mở rộng vấn đề

     Điểm mới về tội danh giết người trong BLHS 2015:

     Tội danh giết người được quy định tại Điều 93 BLHS 1999 và Điều 123 BLHS 2015. Về cơ bản, các quy định về tôi danh này tại BLHS mới tiếp thu những quy định đã có từ trước tại BLHS năm 1999. Tuy nhiên, BLHS 2015 đã có bổ sung thêm một khoản quy định chế tài cho trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người như sau: Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Như vậy có thể thấy rằng, BLHS 2015 đã có quy định cụ thể hơn, tiến bộ hơn BLHS cũ.

         Tội danh giết người là tội phạm được đánh giá là “tàn ác, man rợ” trong các BLHS không chỉ tại Việt Nam mà còn trên thế giới. Việc người thực hiện tội phạm một cách cố ý đang chuẩn bị phạm tội cũng là mối đe dọa rất lớn đến việc gây ra một thiệt hại đáng kể cho xã hội. Chính vì lẽ đó nên việc quy định rõ rang chế tài cho hành vi chuẩn bị phạm tội giết người là hợp lý, tiến bộ.

        Trên đây là một trong số những tình huống về tội phạm xâm phạm đến tính mạng của con người. Trên thực tế, ta còn thấy có rất nhiều những vụ án có tình tiết phức tạp, nguy hiểm hơn tình huống đã nêu trên. Tuy nhiên qua việc tìm hiểu và xử lý tình huống này chúng ta có thể một lần nữa khẳng định được vai trò của luật hình sự Việt Nam. Dẫu rằng một đất nước có tỷ lệ tội phạm cao dẫn đến ngành luật hình sự phát triển là một rào cản không nhỏ đến sự phát triển của đất nước, nhưng có thể thấy và tin rằng ngày nay  luật hình sự Việt Nam đã, đang và sẽ không ngừng nâng cao khả năng phòng, chống tội phạm, giáo dục cải tạo, răn đe của mình để đem lại cho người dân một môi trường an sinh thật lành mạnh, an toàn và trong sạch.


       Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề:Chế tài dành cho tội phạm xâm phạm đến tính mạng con người. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

      Trân trọng./.


 

 

RELATED ARTICLES
- Advertisment -

Bài viết xem nhiều

Recent Comments

phone-call