Biện pháp lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

       Bình đẳng giới luôn là mục tiêu quan trọng và nhất quán được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện trong những năm qua. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL được xem là biện pháp chiến lược để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ.  Vậy biện pháp  lồng ghép vấn đề bình đẳng giới  đã được triển khai như thế nào và gồm nội dung gì thì qua bài viết với đề tài “Biện pháp lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” em sẽ làm rõ hơn về vấn đề này .


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Luật hôn nhân vào gia đình
  • Luật bình đẳng giới 2006
  • Giáo trình luật hôn nhân và gia đình
  • Luật phòng chống bạo lực gia đình
  • Nghị định của Chính phủ số 55/2009/NĐ-CP Ngày 10 tháng 06 năm 2009

Khái niệm giới và bình đẳng giới

Khái niệm về giới và bình đẳng giới

       Bình đẳng Giới: theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật BĐG 2006 “chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của Nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.” Như vây, giới chính là vai trò xã hội và những kì vọng liên quan đến nam và nữ . Dựa trên khái niệm về giới và các nghiên cứu vai trò giới, nhà làm luật đã đưa ra khái niệm BĐG : “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực cuả mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và sự thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”( Khoản 3 Điều 5 Luật BĐG 2006)

 Khái niệm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản pháp luật

       Có nhiều góc độ để tìm hiểu về biện pháp lồng ghép bình đẳng giới, dưới đây em xin đưa ra 2 góc độ phổ biến nhất

       Dưới góc độ khoa học về giới: Thì lồng ghép giới là đưa yếu tố giới vào dòng chảy chủ đạo như luật pháp, chính sách, khoa học, giáo dục, kinh tế trên phạm vi toàn xã hội, đó là quá trình xác định mục tiêu BĐG đồng thời chủ động, tìm các vấn đề liên quan đến các hoạt động của các nhóm xã hội, từ đó tiến hành bảo đảm BĐG 1 cách toàn diện.

        Dưới góc độ luật học: Lồng ghép giới được hiểu là cách thức mà các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải tiến hành nhằm bảo đảm thực hiện BĐG. Và tại khoản 5 Điều Luật BĐG quy định các nguyên tắc cơ bản về BĐG đã quy định: “Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật”.Trong xây dựng pháp luật “Lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.”( Khoản 7 Điều 5 Luật BĐG 2006).

       Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL bao gồm:

  • Xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh;
  •  Dự báo tác động của các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành với nam và nữ;
  • Xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết các vấn đề giới trong phạm vi văn bản quy phạm pháp luật.
 

Nội dung biện pháp lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

       Ngày 13/8/2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 17/2014/TT-BTP quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL, Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2014 (Thông tư số 17/2014/TT-BTP). Đây là một biện pháp để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa năm và nữ

Nội dung cơ bản về lồng ghép

       Việc lồng ghép BĐG trong xây dựng văn bản QPPL bao gồm:

       –  Xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản QPPL điều chỉnh:Từ việc đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và phân tích các số liệu thực tiễn có tách biệt theo giới để xác định các vấn đề đang có sự bất bình đẳng giới, có phân biệt đối xử về giới trong các lĩnh vực do văn bản QPPL điều chỉnh; xác định nguyên nhân gây nên vấn đề giới; đưa ra các phương án và các biện pháp giải quyết, trong đó có biện pháp ban hành văn bản QPPL.

        – Dự báo tác động của các quy định trong văn bản QPPL khi được ban hành đối với nữ và nam:Trong đó chú ý các tác động đến vị trí của nam, nữ trong đời sống xã hội và gia đình, đến cơ hội, điều kiện phát huy năng lực của nam, nữ cho sự phát triển của cộng đồng, gia đình và cá nhân; đến việc nam, nữ thụ hưởng các kết quả của sự phát triển. Việc đánh giá phải dựa trên việc thu thập, phân tích thông tin và các dữ liệu cần thiết, có đánh giá định tính và định lượng; đồng thời đánh giá nhận thức, thái độ của xã hội đối với việc lồng ghép BĐG.

       -Xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong phạm vi văn bản QPPL điều chỉnh: Bao gồm cả trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của tổ chức, cá nhân trong xã hội với việc bảo đảm các nguồn lực về tài chính và con người.

       Theo quy định của Thông tư số 17/2014/TT-BTP, cơ quan đề xuất xây dựng văn bản, cơ quan lập đề nghị Chương trình xây dựng văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản thực hiện việc xem xét, phân tích để phát hiện trong lĩnh vực, quan hệ xã hội mà văn bản sẽ điều chỉnh có khả năng dẫn đến bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới. Cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện việc rà soát, tổng kết thực tiễn thi hành các chính sách, quy định hiện hành về bình đẳng giới và các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực, quan hệ xã hội do văn bản điều chỉnh. Trên cơ sở kết quả rà soát, tổng kết thực tiễn thi hành, xem xét, đánh giá nguyên nhân của vấn đề giới, phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới và đề xuất các phương án giải quyết, cụ thể như: Trường hợp có vấn đề về bình đẳng giới hoặc bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới do chưa có các quy định của pháp luật để điều chỉnh thì đề xuất bổ sung các chính sách, các quy định đó trong dự thảo văn bản để bảo đảm vấn đề bình đẳng giới; trường hợp phát hiện vấn đề bất bình đẳng giới từ chính các quy định của pháp luật thì sửa đổi các quy định đó trong dự thảo văn bản để bảo đảm vấn đề bình đẳng giới… Bên cạnh đó, còn thực hiện việc đánh giá tác động về chính sách, giải pháp để giải quyết vấn đề giới; xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong dự kiến chính sách, dự thảo văn bản. Đồng thời, Thông tư số 17/2014/TT-BTP cũng quy định, thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPLnhư: Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trong soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, trong thẩm định dự thảo văn bản; lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Văn phòng Chính phủ, Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra thực hiện việc thẩm tra dự thảo văn bản. Ngày 22/6/2015, Quốc hội đã thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016) với nhiều nội dung quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL đã góp phần khẳng định và nâng cao hơn nữa vai trò, tầm quan trọng của vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.

Tác dụng của biện pháp lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

       Xuất phát từ tầm quan trọng của bình đẳng giới là mục tiêu chiến lược quốc gia, sự cần thiết phải lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

       Thứ nhất, việc lồng ghép bình đẳng giới trong quá trình xây dựng VBQPPL để kịp thời nhận diện tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

       Xét ở khía cạnh bảo đảm các quyền con người của nam và nữ (hay quyền bình đẳng giới), lồng ghép bình đẳng giới chính là cách thức giúp dự liệu và nhận diện tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ, xác định các nguyên nhân gây ra tình trạng bất bình đẳng, từ đó đưa ra những biện pháp can thiệp phù hợp. Nếu không tiến hành lồng ghép bình đẳng giới trong quá trình xây dựng pháp luật sẽ dẫn đến nguy cơ không nhận ra bất bình đẳng giới và có thể bỏ qua hoặc không bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của một nhóm nào đó (nam hoặc nữ) (theo Quỹ hỗ trợ các sáng kiến tư pháp (2015), Hướng dẫn lồng ghép giới dành cho các tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp tại Việt Nam, tr.17,18)

       Thứ hai, cần lồng ghép bình đẳng giới trong quá trình xây dựng VBQPPL do những đặc trưng riêng khác nhau khách quan của mỗi giới nên việc chịu tác động của mỗi giới từ cùng một chính sách pháp luật là rất khác nhau. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy nam và nữ không chỉ có những đặc điểm sinh học rất khác nhau mà còn có những trải nghiệm và kinh nghiệm sống khác nhau, vì thế họ có nhu cầu, khả năng, mối quan tâm và ưu tiên cũng như có khả năng đóng góp khác nhau. Chính bởi vậy nam giới và nữ giới cũng chịu tác động khác nhau từ cùng một chính sách phát triển kinh tế – xã hội.

       Thứ ba, việc lồng ghép bình đẳng giới trong quá trình xây dựng pháp luật để cải thiện thực tế tồn tại bất bình đẳng giới và hướng tới thúc đẩy bình đẳng giới. Chính bởi tầm quan trọng của lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật nên Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã quy định việc lồng ghép bình đẳng giới trong toàn bộ hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, từ lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định, thẩm tra dự thảo… Tuỳ thuộc vào từng loại văn bản quy phạm pháp luật mà trình tự, thủ tục lồng ghép bình đẳng giới có sự khác biệt.

Thực tiễn áp dụng biện pháp lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL

Những thành quả đạt được

       Bà Trương Thị Mai,Chủ nhiệm Ủy ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội, cho biết, sau 10 năm thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Việt Nam đã đạt được chỉ số phát triển giới (GDI) khá cao so với các nước có cùng mức độ phát triển. Theo Báo cáo Phát triển con người năm 2009 của Liên hợp quốc, Việt Nam đứng thứ 94 trong số 155quốc gia về chỉ số phát triển giới và đứng thứ 62 trong số 109 nước về chỉ sốvai trò của giới (GEM). Có được những kết quả trên, không thể không nói đến vai trò của luật pháp và chính sách “Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật”, là một trong những nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới được quy định trong Luật Bình đẳng giới. Luật cũng quy định rõ nộidung của hoạt động lồng ghép giới bao gồm xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết, dự báo tác động của các quy phạm pháp luật đối với phụ nữ và nam giới, xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết vấn đề giới…Trên thực tế chúng ta đã thấy rằng, việc lồng ghép các vấn đề về bình đẳng giới đã được thể hiện trong nội dung của không ít các quy định của pháp luật như: Trong Bộ luật hình sự 2009 thay vì tội buôn bán phụ nữ và trẻ em đã có thay đổi bằng điều tôi buôn bán người, như vậy người đàn ông cũng được bảo vệ chứ không phải riêng người phụ nữ. Hay như trong bộ luật lao động do tính chất đặc thù nên đã có những quy dịnh riêng rất phù hợp như chế độ thai sản, nghỉ ngơi…Như vậy, đã phần nào tiến tới bình đẳng giới một cách thực chất

       Thời gian qua  ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có sự lồng ghép về vấn đề bình đẳng giới. Tuy nhiên, nhìn chung việc lồng ghép này còn mang tính hình thức, chất lượng không cao. Mặc dù Luật Bình đẳng giới ban hành đã 08 năm, nhưng một số người vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc cần thiết bảo đảm BĐG; Nhiều người tuy ý thức được tầm quan trọng của việc bảo đảm BĐG nhưng hiểu về BĐG chưa đầy đủ, chưa nắm chắc các khái niệm cơ bản về giới, BĐG, phân biệt đối xử giới, biện pháp thúc đẩy BĐG, các quy định về lồng ghép giới. Do đó khi đánh giá, nhận xét về văn bản dưới góc độ giới vẫn còn theo cảm tính, chưa bắt đầu từ việc xác định vấn đề giới trong văn bản. Chính vì vậy, còn tình trạng hiểu về việc bảo đảm BĐG trong văn bản một cách đơn giản và chưa thật đúng về lồng ghép giới.

Những bất cập trong việc triển khai biện pháp lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL

      Thực tế cho thấy lực lượng cán bộ cho công tác lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL rất mỏng, hầu hết đều chưa có đủ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm về bình đẳng giới. Hiện nay, tại hầu hết các sở, ban, ngành địa phương chưa có phòng bình đẳng giới, hoạt động này chỉ lồng ghép với văn phòng sở hoặc các phòng chuyên môn khác.

       Bên cạnh đó, việc bố trí cán bộ tham mưu làm công tác quản lý và xây dựng chính sách về bình đẳng giới gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ với 100% thành viên kiêm nhiệm. Sự hạn chế về kiến thức giới, kỹ năng lồng ghép giới của cán bộ làm công tác tham mưu, hoạch định chính sách đã dẫn đến việc triển khai xây dựng pháp luật cũng như việc thực thi luật pháp còn nhiều khó khăn, lúng túng và chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

       Nhằm giúp những người làm công tác vì sự tiến bộ phụ nữ trong tỉnh nhận thức sâu sắc hơn về vấn đề bình đẳng giới, vừa qua, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh tổ chức tập huấn về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL cho các cán bộ, chuyên viên trực tiếp làm công tác vì sự tiến bộ phụ nữ ở các cơ quan, đơn vị, các tổ chức đoàn thể cấp tỉnh và huyện, lãnh đạo phòng LĐ- TB & XH các huyện, thị xã, thành phố.

       Nội dung tập huấn nhằm giới thiệu “Bộ công cụ chiến lược lồng ghép giới” trong xây dựng văn bản QPPL do Bộ Tư pháp xây dựng được tiếp cận ở góc độ nhận thức đúng về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động này trong công tác xây dựng pháp luật. Đây là một phần nằm trong khuôn khổ dự án Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam, do Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) hỗ trợ.

       Theo đó, Bộ công cụ này có 2 phần chính: Quy trình lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL và Tiêu chí đánh giá việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL. Cụ thể, quy trình lồng ghép sẽ gồm 3 giai đoạn chính trong quá trình xây dựng văn bản QPPL: lập, đề xuất chương trình; soạn thảo, thẩm định văn bản QPPL và thẩm tra, xem xét thông qua dự án, dự thảo văn bản.

       Bình đẳng giới luôn là mục tiêu quan trọng và nhất quán được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện trong những năm qua. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL được xem là biện pháp chiến lược để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ.  Vậy biện pháp  lồng ghép vấn đề bình đẳng giới  đã được triển khai như thế nào và gồm nội dung gì thì qua bài viết với đề tài “Biện pháp lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” em sẽ làm rõ hơn về vấn đề này .

       Để làm tốt hoạt động lồng ghép giới, đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia giàu kỹ năng và kinh nghiệm cùng với nguồn thông tin, số liệu đầu vào đã được phân tách theo giới. Và quan trọng nhất là cần có sự quan tâm đến vấn đề giới ngay từ khi bắt đầu xây dựng dự án luật.Chúng ta dường như đang thiếu rất nhiều thứ, cả nguồn nhân lực, tài chính,thông tin lẫn sự quan tâm thích đáng… Khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật luôn phải đặt ra câu hỏi “văn bản quy phạm pháp luật này được thực hiện như thế nào để nam và nữ nhận được quyền lợi như nhau?”; cần thực hiện hiệu quả việc lồng ghép giới vào xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cũng như chương trình, kế hoạch, chu trình ngân sách, đề án, dự án. Việc nhận thức đúng ngay từ đầu khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật cũng như việc tích hợp các vấn đề về giới ngay từ đầu sẽ tránh được việc phải rà soát, bổ sung, thay đổi văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tình hình triển khai pháp luật về bình đẳng giới

Nguyên nhân và giải pháp về vấn đề bình đẳng giới

Nguyên nhân

      Nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong việc thực hiện lồng ghép BĐG trong xây dựng văn bản QPPL thời gian qua có thể kể đến đó là: Lồng ghép giới là một vấn đề khó, chúng ta còn chưa có kinh nghiệm. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác BĐG, có kỹ năng trong lồng ghép giới mới chỉ được tiến hành bước đầu. Pháp luật về BĐG cũng như văn bản hướng dẫn về thực hiện lồng ghép BĐG trong xây dựng văn bản QPPL còn thiếu, chưa thật cụ thể, gây lúng túng trong quá trình thực hiện.

Một số giải pháp

      Hoàn thiện pháp luật về Bình đẳng giới, kể cả quy trình xem xét, thông qua luật, bảo đảm các báo cáo thẩm tra Lồng ghép giới được Quốc hội xem xét, thảo luận.

      Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn; hội thảo, trao đổi về lồng ghép Bình đẳng giới trong Xây dựng pháp luật.

       Xác định rõ trách nhiệm và các biện pháp xử lý đối với việc không tuân thủ thực hiện quy định Lồng ghép giới. Xây dựng hệ thống tiêu chí, quy trình chuẩn để hướng dẫn thực hiện hoạt động Lồng ghép giới.

      Lồng ghép BĐG trong xây dựng văn bản QPPL là yêu cầu cần kíp hiện nay đòi hỏi cần phải được hoạch định cụ thể nhằm thực hiện quy định của Luật Bình đẳng giới, góp phần bảo đảm công bằng xã hội. Đặc biệt là sau khi “Thông tư về lồng ghép vấn đề bính đẳng giới trong xây văn bản quy phạm pháp luật” được Bộ Tư pháp ban hành thì vấn đề này cần được chú trọng tăng cường thực hiện hơn nữa.


  Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề: Biện pháp lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

      Trân trọng./.


 

RELATED ARTICLES
- Advertisment -

Bài viết xem nhiều

Recent Comments

phone-call