Bị ốm dài ngày có phải là căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động

0
39

     Tôi có ký hợp đồng làm việc cho một công ty cổ phần xây dựng X từ tháng 1/2007. Hợp đồng lao động giữa tôi và công ty chỉ ghi ngày có hiệu lực nhưng không ghi ngày kết thúc. Tuy nhiên, trong thời gian đi làm tôi bị bệnh phải vào viện điều trị 4 tháng. Sau đó, tôi trở lại công ty làm việc bình thường. Làm việc được 3 tháng bệnh của tôi tái phát, tôi lại phải vào viện điều trị 8 tháng. Nay, bệnh của tôi đã khỏi hoàn toàn. Sau khi ra viện tôi đã đến công ty tiếp tục làm việc thì ông Giám đốc công ty không cho tôi làm việc nữa với lý do tôi đã nghỉ 12 tháng. Xin hỏi, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của ông Giám đốc  đối với tôi có đúng không?. Tôi có được bồi thường hay thanh toán gì không?.

Bị ốm dài ngày có phải là căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động


Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012.


chấm dứt hợp đồng lao động do bị ốm
chấm dứt hợp đồng lao động do bị ốm

     Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi về Tổng đài tư vấn  của chúng tôi. Về vấn đề Bị ốm dài ngày có phải là căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động chúng tôi xin tư vấn cho chị như sau:

1.Quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty X.

     Vì trong hợp đồng giao kết giữa chị với công ty không ghi ngày kết thúc hợp đồng mà chỉ ghi ngày có hiệu lực nên loại hợp đồng này được xác định là loại hợp đồng không xác định thời hạn.

-Về căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động:

Điều 38 Bộ luật lao động 2012 đã quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động:

“Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

     Như vậy, theo căn cứ mà chị cung cấp, lý do mà công ty X đưa ra để chấm dứt hợp đồng lao động với chị là do chị đã nghỉ việc tới 12 tháng là hoàn toàn trái quy định của pháp luật. Bởi vì đây là trường hợp không được phép chấm dứt hợp đồng lao động. Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động 2012 công ty X chỉ được phép chấm dứt hợp đồng lao động với chị trong trường hợp:

“b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục”.

     Tuy nhiên, trường hợp của chị không thuộc quy định trên vì: chị nghỉ việc vì lý do chị bị ốm phải đi viện để điều trị. Thời gian nghỉ việc để điều trị không liên tục vì chị đã nghỉ thành hai đợt: đợt đầu chị nghỉ việc 4 tháng sau đó có đi làm trở lại bình thường, đợt 2 do bệnh tái phát chị tiếp tục vào viện điều trị thêm 8 tháng. Do đó, tổng cộng thời gian điều trị của chị là 12 tháng nhưng không liên tục(mà theo quy định của pháp luật là phải liên tục).

     Bên cạnh đó, hiện nay bệnh tình của chị đã khỏi nên cũng không thuộc trường hợp “khả năng lao động chưa hồi phục”.Từ đó,việc giám đốc công ty không cho chị làm việc với lý do nghỉ 12 tháng (bị ốm quá dài) là trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

-Về thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động.

Khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động 2012 quy định:

“2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”.

      Do đó, hợp đồng lao động giữa chị và công ty X là hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên khi muốn chấm dứt hợp đồng lao động với chị, công ty X phải thông báo trước cho chị ít nhất 45 ngày. Mà theo dữ liệu chị cung cấp công ty X không hề thông báo cho chị, vì vậy công ty đã chấm dứt hợp đồng lao động với chị sai về mặt thủ tục.

     Như vậy, căn cứ vào câu hỏi của chị thì việc chấm dứt hợp đồng lao động của công ty X đối với chị sai cả về căn cứ và thủ tục chấm dứt theo quy định của pháp luật lao động.

chấm dứt hợp đồng lao động do bị ốm
chấm dứt hợp đồng lao động do bị ốm

Tổng đài tư vấn pháp luật 24/7: 1900 6184

2.Giải quyết quyền lợi cho người lao động.

     Căn cứ theo Điều 42 Bộ luật lao động 2012:

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”.

     Do công ty X chấm dứt hợp đồng lao động do bị ốm với chị là trái pháp luật nên quyền lợi chị được hưởng như sau:

-Trường hợp 1:Chị muốn quay trở lại làm việc cho công ty X.

+Công ty X phải nhận chị trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết, trường hợp không còn vị trí công việc khi giao kết hợp đồng thì chị và công ty sẽ thương lượng để sửa đổi hợp đồng.

+Công ty phải trả tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày chị không được làm việc.

+Công ty phải bồi thường cho chị ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

-Trường hợp 2: Chị không muốn quay trở lại làm việc cho công ty X.

+Công ty phải trả tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày chị không được làm việc.

+Bồi thường cho chị ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

+Công ty phải chi trả trợ cấp thôi việc cho chị căn cứ theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động 2012.

“Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

     Như vậy, mỗi năm làm việc chị sẽ được trả nửa tháng tiền lương.

-Trường hợp 3: Chị vẫn muốn quay lại làm việc tại công ty nhưng công ty X không muốn nhận chị và chị đồng ý.

+Công ty phải trả tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày chị không được làm việc.

+Công ty phải bồi thường cho chị ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

+Công ty phải chi trả trợ cấp thôi việc cho chị căn cứ theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động 2012.

+Chị và công ty thỏa thuận về khoản tiền bồi thường do chấm dứt hợp đồng lao động nhưng ít nhất phải bằng 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

     Ngoài ra, trong trường hợp của chị, do công ty X đã vi phạm thời hạn báo trước nên công ty phải bồi thường cho chị một  khoản tiền tương ứng với tiền lương của chị trong những ngày không báo trước.

     Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi đối với câu hỏi về Bị ốm dài ngày có phải là căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động của chị. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ  Tổng đài tư vấn pháp luật 24h : 19006184 để được giải đáp.


Bài viết liên quan:

Quy định của pháp luật về việc xóa kỷ luật và giảm thời hạn chấp hành

Đơn đề nghị hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội một lần

Phạt tiền hoặc trừ lương đối với người lao động vi phạm nội quy